Xác định tư cách của đương sự trong tố tụng thế nào? (Ảnh minh họa) 2. Đương sự trong tố tụng hình sự là gì? Trong tố tụng hình sự, tại điểm g khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định đương sự là các cá nhân, cơ quan, tổ chức gồm: Nguyên đơn dân Với tư cách là luật sư Nhà nước, công tố viên thực hiện nhiệm vụ tham gia vào các dự thảo, tranh luận và các dự luật, thực hiện hoặc hướng dẫn cho chính quyền trung ương hay địa phương các chiến lược kiện tụng trong trường hợp chính quyền ở các cấp này có liên quan đến các vụ kiện tụng. Với tư cách là luật sư Nhà nước, các công tố viên tham gia vào dự thảo, tranh luận những dự luật, thực hiện, hướng dẫn chiến lược kiện tụng cho chính quyền trung ương, địa phương nếu các cấp này có liên quan đến vụ kiện. Bên cạnh đó, họ còn có vai trò cung cấp những những lời khuyên pháp lý miễn phí cho công dân. Tố tụng dân sự là trình tự, hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét, giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự. Trong tố tụng dân sự,để giải quyết một vụ việc dân sự cần có sự tham gia của rất nhiều chủ thế với các quyền và nghĩa vụ khác nhau. Với tính năng Giờ tư vấn và đồng hồ bấm giờ trên phần mềm, luật sư có thể tiết kiệm rất nhiều thời gian. - Ngay khi kết thúc tư vấn, phần mềm sẽ tự động xuất phiếu hoạt động tư vấn. - Mọi thứ sẽ được thực hiện một cách tự động, nhanh chóng, dễ dàng. Vụ lừa đảo của sàn tiền ảo VNCOINS. Trên đây là top 3 vụ án kiện tụng rầm rộ về tiền ảo tại Việt Nam hay cụ thể là tp.HCM. Nội dung trên cũng đã khái quát hình thức mà những kẻ lừa đảo đã lợi dụng để chiếm đoạt tiền của nhà đầu tư một cách trót lọt. RhUj. Theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 BLTTHS, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan, người tiến hành tố tụng NTHTT phải triệu tập những người có liên quan đến vụ án để tham gia tố tụng với tư cách là người tham gia tố tụng NTGTT. Việc xác định không đúng tư cách NTGTT có thể vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và sẽ dẫn đến những hậu quả nhất định. Vì vậy, việc xác định đúng tư cách của NTGTT là yêu cầu bức thiết cho xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự TTHS.1/ Xác định tư cách người tham gia tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng nhìn từ thực tế địa phươngTừ khi BLTTHS có hiệu lực thi hành cho đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng CQTHTT địa phương đã tuân thủ đúng các quy định của BLTTHS về NTGTT nên đã xác định đúng tư cách của từng chủ thể, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể khi tham gia tố tụng và không có vụ án nào bị khiếu nại, tố cáo, kháng cáo sau khi bản án xét xử về tư cách tố tụng của họ và không có trường hợp CQTHTT sau trả hồ sơ cho CQTHTT trước điều tra bổ sung trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi xác định sai tư cách cạnh những mặt đạt được, trên thực tế, việc xác định tư cách tham gia tố tụng của các đối tượng có liên quan của các CQTHTT hiện còn nhiều vấn đề cần sự nhận thức phù hợp với quy định của pháp luật Hình thức thể hiện việc xác định tư cách người tham gia tố tụng trong các văn bản tố tụng Trong văn bản của các cơ quan điều traTrong giai đoạn khởi tố, điều tra, tư cách NTGTT được thể hiện trong các quyết định, biên bản liên quan đến hoạt động khởi tố, điều tra như Quyết định khởi tố bị can, quyết định tạm giữ, quyết định tạm giam, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản kết luận điều tra… Trong các hình thức thể hiện này, tư cách NTGTT được thể hiện trong các quyết định, biên bản trước khi kết thúc điều tra có thể thay đổi nhưng tư cách NTGTT được thể hiện trong bản kết luận điều tra là kết quả chính thức, không thay đổi. Bởi vì, bản kết luận điều tra thể hiện sự đánh giá toàn diện của cơ quan điều tra về các vấn đề liên quan đến vụ án, trong đó có tư cách NTGTT và là văn bản đánh dấu việc kết thúc quá trình điều tra để chuyển sang giai đoạn truy thực tiễn, việc thể hiện tư cách NTGTT là người bị tạm giữ, bị can trong bản kết luận điều tra luôn đảm bảo sự rõ ràng, dễ xác định nhưng việc thể hiện tư cách những NTGTT khác lại rất chung chung. Bởi vì, trước khi trình bày lời khai của từng NTGTT ngoại trừ bị can, bản kết luận điều tra ghi toàn bộ tư cách của những người trình bày như sau“Lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanÔng Nguyễn Văn A, sinh năm, nơi cư trú… Ông A cho rằng…Ông Nguyễn Văn B, sinh năm, nơi cư trú… Ông B xác định…”.Cách thể hiện này rất khó để xác định ông A là người bị hại hay người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tương tự đối với tư cách của NTGTT cạnh đó, trong một số vụ án, phần thể hiện tư cách NTGTT trong bản kết luận điều tra lại ghi đầy đủ những NTGTT mà một vụ án thường có như Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Tuy nhiên, lời khai của những người bên dưới chỉ có thể xác định họ là người bị hại hoặc người làm chứng mà không có căn cứ nào xác định họ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự… Điều đó gây khó khăn cho việc xác định tư cách Trong văn bản của viện kiểm sátKhi vụ án được chuyển sang giai đoạn truy tố, hình thức thể hiện tư cách NTGTT được viện kiểm sát xác định thông qua biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, các quyết định tố tụng có liên quan, cáo trạng hoặc quyết định truy tố và danh sách những người cần triệu tập tham gia phiên tòa. Trong số các hình thức trên thì cáo trạng hoặc quyết định truy tố là hình thức xác định cuối cùng tư cách NTGTT trước khi chuyển hồ sơ cho tòa án để xét xử. Ngoài ra, tư cách NTGTT còn được xác định trong danh sách những người cần triệu tập ra trước phiên thực tiễn, hình thức thể hiện tư cách NTGTT trong cáo trạng hoặc quyết định truy tố của viện kiểm sát cũng tương tự như cơ quan điều tra thể hiện, tức là liệt kê tư cách NTGTT trước rồi mới ghi lời khai của từng người mà không xác định rõ tư cách của từng người kèm theo lời khai của cạnh đó, việc thể hiện tư cách NTGTT trong các văn bản chính thức của viện kiểm sát còn thể hiện sự thiếu nhất quán như Có trường hợp cáo trạng thể hiện tên, tư cách tham gia tố tụng của một người nhưng danh sách những người triệu tập ra tòa lại không có; và ngược lại, danh sách những người cần triệu tập ra tòa có tên tư cách NTGTT nhưng cáo trạng lại không thể mặt thời gian, thông thường cáo trạng được lập trước rồi mới lập danh sách những người cần triệu tập ra tòa, nhưng nhiều khi chúng có cùng thời gian ban hành. Như vậy, không rõ việc xác định tư cách NTGTT theo cáo trạng đúng hay theo danh sách những người cần triệu tập khi có sự khác nhau giữa hai văn bản này. Thiết nghĩ, khi có sự thể hiện khác nhau giữa cáo trạng hoặc quyết định truy tố với danh sách những người cần triệu tập ra tòa thì để đánh giá viện kiểm sát có xác định đúng tư cách NTGTT hay không cần căn cứ vào cáo trạng hoặc quyết định truy tố, vì đây là văn bản chính thức và đánh dấu sự kết thúc giai đoạn truy tố, chuyển sang giai đoạn xét xử khi tòa án nhận hồ sơ và thụ lý theo quy định của pháp Trong văn bản của tòa ánTrong giai đoạn xét xử sơ thẩm, tư cách NTGTT được thể hiện chủ yếu trong các quyết định, lệnh có liên quan; trong đó, quyết định đưa vụ án ra xét xử và bản án là hình thức thể hiện tư cách NTGTT đầy đủ nhất. Nếu như quyết định đưa vụ án ra xét xử thể hiện toàn bộ tư cách NTGTT thì bản án chỉ đề cập đến những người mà phần quyết định của bản án có tác động đến quyền và nghĩa vụ của họ, người mà họ đại diện hay bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nên người làm chứng không được xác định trong phần đầu của bản án. Mặc dù phần đầu của bản án không thể hiện người làm chứng trong vụ án nhưng trong phần xét thấy có đề cập đến tư cách của người làm thực tế, sự thể hiện tư cách NTGTT trong quyết định đưa vụ án ra xét xử thông thường được xác định theo danh sách những người được triệu tập ra tòa của viện kiểm sát do hồ sơ chưa được nghiên cứu toàn diện, chặt chẽ và có thể thay đổi khi bản án được ban hành. Khi thảo án, nếu thấy rằng tư cách NTGTT theo quyết định đưa vụ án ra xét xử không chính xác thì thẩm phán, chủ tọa phiên tòa sẽ xác định lại và tại phiên tòa, nếu xác định đúng tư cách NTGTT đã được thể hiện như dự thảo bản án thì tư cách NTGTT sẽ được xác định như trong dự thảo bản án; còn nếu sai sẽ sửa lại cho phù nhiên, việc xác định tư cách NTGTT trước khi mở phiên tòa không đúng sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của NTGTT. Chẳng hạn, khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, nếu một người được xác định là người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự thì họ được nhận giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng nếu xác định một trong số những người này là người làm chứng thì họ chỉ được nhận duy nhất giấy triệu tập. Thêm vào đó, nếu khi thảo án xác định không đúng tư cách NTGTT thì khi phổ biến quyền và nghĩa vụ cho NTGTT cũng sẽ không đúng với quy định của BLTTHS. Chẳng hạn, một người được xác định là người làm chứng trong khi đáng lẽ họ phải được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì họ sẽ bị hạn chế một số quyền, trong đó có quyền tranh luận tại phiên tòa theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 54 BLTTHS. Cho nên, mặc dù bản án là văn bản chính thức thể hiện việc xác định tư cách NTGTT của tòa án nhưng nếu việc xác định tư cách NTGTT trước khi ban hành bản án không đúng cũng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Xác định tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng trong một số trường hợp cụ thể Nhầm lẫn giữa tư cách tham gia tố tụng của người bị hại, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi liên quan đến vụ án khi họ đều là cá nhânKhi nguyên đơn dân sự là cơ quan, tổ chức thì tư cách của họ dễ dàng phân biệt với người bị hại, người có quyền lợi liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, khi họ là cá nhân thì việc xác định rõ tư cách của từng đối tượng không dễ. Chẳng hạn, trong vụ án gây rối trật tự công cộng, người bị hành vi của người phạm tội gây thiệt hại về thể chất, tài sản nhưng không đủ yếu tố cấu thành tội độc lập, họ tham gia tố tụng với tư cách gì? Có ý kiến cho rằng, những người này là người bị hại vì thiệt hại của họ do hành vi của người phạm tội gây ra, nếu không xác định họ là người bị hại sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Ý kiến khác lại cho rằng, những người này không phải là người bị hại vì thiệt hại của họ không phải là đối tượng tác động của tội phạm nên họ là nguyên đơn dân tôi cho rằng, để xác định người bị thiệt hại trong trường hợp này với tư cách nào cần phải làm rõ khách thể của tội gây rối trật tự công cộng. Khách thể của tội gây rối trật tự công cộng được hiểu là trật tự, an toàn công cộng mà trực tiếp là các quy tắc sống lành mạnh cũng như hoạt động bình thường của xã hội tại những khu vực công cộng. Như vậy, quyền sở hữu tài sản, quyền bất khả xâm phạm về thân thể không phải là đối tượng tác động của tội này nên người bị thiệt hại không phải là người bị hại. Tuy nhiên, trong vụ án này, để xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng thì người phạm tội phải tác động đến quy tắc sống lành mạnh, hoạt động bình thường của xã hội, đó có thể là việc bảo đảm quyền của chủ sở hữu tài sản, quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người cụ thể ở nơi công cộng. Thiệt hại của các chủ thể này cũng được xác định do tội phạm gây ra, nhưng họ không phải là người bị hại, vì họ không phải là đối tượng tác động của tội phạm. Họ cũng không phải là người có quyền lợi liên quan đến vụ án vì người có quyền lợi liên quan đến vụ án là người có lợi ích vật chất, tinh thần liên quan đến vụ án và không phải là người bị thiệt hại trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra. Vì vậy, việc xác định người bị thiệt hại trong vụ án này là nguyên đơn dân sự là phù hợp với lý luận và quy định của Việc xác định tư cách tham gia tố tụng của bị đơn dân sự, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng chưa rõ ràngTrong vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên có gây thiệt hại cho người khác thì các CQTHTT thường xác định cha, mẹ bị cáo là người đại diện hợp pháp cho bị cáo và là bị đơn dân sự. Tuy nhiên, không phải bất kể người chưa thành niên nào phạm tội mà có gây thiệt hại thì cha, mẹ người đó đều là bị đơn dân trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi thì cha, mẹ bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do bị cáo gây ra khi thực hiện hành vi phạm tội. Trách nhiệm bồi thường của cha, mẹ bị cáo với tư cách bị đơn dân sự là trách nhiệm của chính mình, không phải là trách nhiệm nhân danh bị trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì cha, mẹ bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường phần còn thiếu đối với thiệt hại do bị cáo gây ra và tham gia tố tụng với tư cách người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án vì trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về bị cáo. Việc tòa án quyết định bị cáo phải bồi thường cho ai, với mức và các khoản bồi thường như thế nào ảnh hưởng đến nghĩa vụ của cha, mẹ bị cáo trong trường hợp bị cáo không đủ tài sản để bồi lưu ý, việc xác định tư cách cha, mẹ bị cáo là người chưa thành niên là bị đơn dân sự hoặc người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án không làm mất đi tư cách đại diện hợp pháp của cha, mẹ bị cáo, vì phạm vi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể là người đại diện hợp pháp với nguyên đơn dân sự, người có nghĩa vụ liên quan là khác nhau. Do sự khác nhau đó, người tham gia tố tụng này không thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng khác. Với tư cách người đại diện hợp pháp, cha, mẹ bị cáo có quyền mời người bào chữa cho bị cáo; có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm liên quan đến bị cáo. Với tư cách bị đơn dân sự hoặc người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cha, mẹ bị cáo có quyền có người đại diện hợp pháp và mời người bảo vệ quyền lợi cho mình; quyền kháng cáo phần bản án, quyết định sơ thẩm liên quan đến việc bồi thường thiệt hại và nghĩa vụ của Nhầm lẫn trong việc xác định tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứngTrong các vụ án chứa mại dâm, mua bán trái phép chất ma túy và đánh bạc thì có CQTHTT xác định người mua dâm, người mua ma túy sử dụng, người tham gia đánh bạc là người làm chứng; có cơ quan lại xác định những người này là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án khi hành vi của họ không bị khởi tố về tội độc xác định đúng tư cách của người mua dâm, người đánh bạc và người mua ma túy sử dụng cần phải nắm rõ quy định của pháp luật về tư cách của từng chủ thể. Người có nghĩa vụ liên quan là người mà hành vi của họ có liên quan đến tội phạm do bị cáo thực hiện và theo pháp luật họ phải có trách nhiệm về hành vi của mình, trách nhiệm này chủ yếu là trách nhiệm vật chất. Trong khi đó, người làm chứng là người biết các tình tiết có liên quan đến vụ án và được các CQTHTT triệu tập để cung cấp thông tin về những tình tiết có liên quan đến vụ án. Như vậy, cả người làm chứng và người có nghĩa vụ liên quan đều nắm được thông tin liên quan đến vụ án. Đối chiếu với các vụ án trên, người mua dâm, người đánh bạc và người mua ma túy đều có hành vi liên quan đến tội phạm do bị cáo thực hiện; nhưng họ cần phải có điều kiện là theo quy định của pháp luật thì họ phải có trách nhiệm về hành vi của mình. Do đó, nếu hành vi của họ không được pháp luật quy định trách nhiệm thì họ không được xác định là người có nghĩa vụ liên quan mà phải được xác định là người làm Việc xác định tư cách người làm chứng, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi liên quan trong vụ án chống người thi hành công vụ còn có sự nhầm lẫnViệc xác định tư cách người thi hành công vụ bị gây thương tích nhưng không cấu thành tội độc lập trong vụ án chống người thi hành công vụ cũng có sự nhầm lẫn. Có cơ quan xác định người thi hành công vụ là người bị hại vì họ đã bị gây thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; có cơ quan xác định họ là người làm chứng; cơ quan khác lại xác định họ là người có quyền lợi liên quan. Trong ba quan điểm này, quan điểm xác định người thi hành công vụ là nguyên đơn dân sự là phù hợp vì người thi hành công vụ có thiệt hại về sức khỏe; thiệt hại này do tội phạm gây ra và họ có đơn yêu cầu bồi thường. Nếu họ không có yêu cầu bồi thường thì quyết định của CQTHTT có liên quan đến quyền và lợi ích của người này nên họ là người có quyền lợi liên quan đến vụ án. Nếu họ không bị thiệt hại về sức khỏe thì họ có thể tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng trong vụ án. Cần lưu ý, tại phiên tòa, trường hợp nếu không có căn cứ thể hiện ý chí của người thi hành công vụ bị thiệt hại có yêu cầu bồi thường hay không có yêu cầu bồi thường từ khởi tố đến xét xử thì tư cách của người thi hành công vụ vẫn là nguyên đơn dân sự và họ có quyền khởi kiện tranh chấp theo trình tự, thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu Trường hợp người đã bỏ tiền ra cứu chữa, mai táng cho người bị hại trong vụ án cố ý gây thương tích, vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộChẳng hạn, trong các vụ án xâm phạm quyền sở hữu, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm người khác, mặc dù là người đã thành niên khi thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị cáo lại không có tài sản để khắc phục thiệt hại nên tác động người thân gia đình, bạn bè hoặc người thân của họ tự nguyện bỏ tiền ra bồi thường để khắc phục hậu quả, thì tư cách của những người này cần được xác định như thế nào để đảm bảo quyền lợi của họ trong việc yêu cầu bị cáo hoàn lại số tiền đã bỏ tiễn có cơ quan xác định họ là nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Khi giải quyết vụ án, CQTHTT sẽ giải quyết cả phần chi phí cứu chữa, mai táng đã bỏ ra. Nếu có căn cứ sẽ công nhận số tiền mà chủ thể đã sử dụng vào việc cứu chữa, mai táng. Trong trường hợp này cần xác định người đã bỏ tiền cứu chữa, mai táng là người có quyền lợi liên quan đến vụ án. Trong trường hợp người bị hại chết mà chi phí này do người đại diện hợp pháp của họ bỏ ra thì xác định họ có hai tư cách vừa là người đại diện hợp pháp cho người bị hại, vừa là người có quyền lợi liên quan đến vụ Trường hợp người đã đưa tiền cho bị cáo khắc phục hậu quảĐối với trường hợp này, thực tiễn có cơ quan xác định họ là người có quyền lợi liên quan; có cơ quan không đưa họ vào tham gia tố tụng vì cho rằng họ không liên quan đến vụ án. Theo chúng tôi, trong trường hợp này, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người có trách nhiệm bồi thường, khắc phục hậu quả số tiền bồi thường lại của người khác. Khi giải quyết vụ án sẽ đề cập đến số tiền của người đã bỏ ra bồi thường. Vì vậy, phần quyết định giải quyết sẽ liên quan đến số tiền đã bỏ ra bồi thường. Do đó, cũng như người đã bỏ ra chi phí mai táng, cứu chữa cho người bị hại thì cần xác định chủ thể này là người có quyền lợi liên quan đến vụ án để đảm bảo quyền lợi của họ sau này, còn việc họ có yêu cầu bị cáo giao trả lại hay không phụ thuộc vào ý chí của Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi xác định không đúng tư cách người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sựKhi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, hồ sơ có thể bị trả để điều tra bổ sung theo quy định tại khoản 3 điều 168 trường hợp viện kiểm sát trả hồ sơ cho cơ quan điều tra, điểm c khoản 1 điều 179 trường hợp tòa án trả hồ sơ cho viện kiểm sát. Đối với tòa án sơ thẩm, bản án của cấp này có thể bị cấp phúc thẩm hủy để xét xử lại theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 250 hoặc bị cấp giám đốc thẩm hủy theo quy định tại khoản 3 điều 273 khi thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/8/2010 của liên bộ Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an, Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS TTLT số 01 được ban hành, việc xác định trường hợp nào là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng chưa rõ ràng, trong đó việc xác định không đúng tư cách NTGTT của CQTHTT trước có được xem là vi phạm nghiệm trọng thủ tục tố tụng để CQTHTT sau trả hồ sơ điều tra bổ sung, hủy án hay không, nên thông thường trong thực tiễn, khi CQTHTT trước xác định sai tư cách NTGTT thì CQTHTT sau sửa lại cho đúng mà không trả hồ sơ điều tra bổ sung hay hủy án. Tuy nhiên, từ khi TTLT số 01 ra đời, điểm c khoản 2 điều 4 thông tư liên tịch này đã quy định việc “xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của NTGTT trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ” là một trong những trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được quy định tại khoản 3 điều 168, điểm c khoản 1 điều 179 BLTTHS và có thể xem quy định này cũng được áp dụng cho quy định tại điểm a khoản 2 điều 250, khoản 3 điều 273 nhiên, theo điểm a khoản 3 điều 4 của TTLT số 01, không phải cứ xác định không đúng tư cách NTGTT thì CQTHTT sau có thể trả hồ sơ điều tra bổ sung, hủy án mà việc xác định không đúng này phải xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đề đặt ra là quyền và lợi ích hợp của NTGTT bị xâm phạm là người bị xác định không đúng tư cách hay NTGTT khác hay tất cả NTGTT. Bởi vì, điểm c khoản 2 điều 4 của TTLT số 01 quy định xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xác định sai tư cách trong khi điểm a khoản 3 điều 4 của TTLT số 01 lại quy định phải xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của NTGTT nói tiễn cho thấy, việc xác định sai tư cách NTGTT có thể xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xác định sai tư cách, cũng có thể NTGTT khác hoặc có thể không. Trường hợp không xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của NTGTT thì không đề cập đến. Đối với hai trường hợp còn lại, khi xác định không đúng tư cách NTGTT hoặc sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người đó hoặc NTGTT khác. Chẳng hạn, người bị thiệt hại về sức khỏe nhưng chưa đến mức bị khởi tố về tội độc lập trong vụ án gây rối trật tự công cộng nếu xác định họ là người bị hại thì họ có quyền kháng cáo bản án tăng nặng hình phạt đối với bị cáo, trong khi xác định đúng tư cách là nguyên đơn dân sự trong vụ án thì họ không có quyền này và việc xác định sai tư cách sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị việc xác định sai tư cách thì việc xác định không đúng tư cách còn bao gồm việc xác định một người không phải là NTGTT nhưng lại xác định họ là NTGTT và ngược lại. Chẳng hạn, người đứng tên trong giấy đăng ký mô tô, xe máy mà bị cáo đã sử dụng để cướp giật tài sản nhưng cơ quan điều tra không đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong khi bị cáo mua xe của họ nhưng chưa thanh toán đủ và chưa chuyển tên nên đã ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của cạnh đó, hành vi xác định không đúng tư cách của NTGTT còn phải xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của NTGTT thì mới thuộc trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Thông tư liên tịch số 01 không giải thích thêm xâm hại nghiêm trọng là như thế nào. Theo từ điển tiếng Việt, xâm phạm là “động chạm đến quyền lợi của người khác”; nghiêm trọng là “ở trong tình trạng xấu, gay go đến mức trầm trọng, có nguy cơ dẫn đến những hậu quả hết sức tai hại”3. Từ đó, xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của NTGTT được hiểu là hành vi vi phạm làm mất hoặc hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của NTGTT mà đáng ra họ phải được hưởng trọn vẹn; đồng thời, trong một số trường hợp còn gây thiệt hại cho họ. Chẳng hạn, một người là người bị hại trong vụ án nhưng cơ quan điều tra không mời người này tham gia tố tụng, làm mất quyền của họ, hay một người bị trộm cắp đồng và có đủ chứng cứ xác định là người bị hại nhưng cơ quan điều tra lại xác định họ chỉ bị chiếm đoạt đồng nên người này chỉ có thể được xác định là nguyên đơn dân sự trong vụ án và làm hạn chế quyền và lợi ích của họ. Việc xác định không đúng như hai trường hợp trên có thể gây thiệt hại cho NTGTT trong việc yêu cầu bồi thường. Như vậy, chỉ xem việc xác định không đúng tư cách NTGTT để trả hồ sơ điều tra bổ sung, hủy án khi hành vi xác định không đúng đó xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng trong vụ Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp liên quan đến việc xác định tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng Hoàn thiện pháp luật về xác định tư cách người tham gia tố tụngTừ phân tích trên, để hoàn thiện pháp luật về các vấn đề này, chúng tôi cho rằngThứ nhất, pháp luật cần xác định rõ ràng chủ thể nào là NTGTT bởi vì không như NTHTT được quy định cụ thể tại khoản 2 điều 33 BLTTHS, NTGTT không được quy định bao gồm những chủ thể nào mà chỉ quy định NTGTT là tiêu đề của chương IV BLTTHS rồi liệt kê từng loại chủ thể. Trong khi đó, ngoài từng chủ thể được quy định là tiêu đề của mỗi điều luật, trong mỗi điều luật còn quy định người đại diện hợp pháp của họ cũng tham gia tố tụng. Như vậy, người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo, nguyên đơn dân sự… có phải là NTGTT hay không cũng chưa được thể hiện rõ. Vì vậy, cần giới hạn phạm vi những chủ thể được xác định NTGTT là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo, người bị hai, bổ sung vào điều 62 BLTTHS trách nhiệm xác định chính xác tư cách NTGTT của cơ quan, NTHTT để đảm bảo quyền của từng chủ thể khi tham gia vào vụ án hình ba, quy định rõ hơn hoặc có sự giải thích phù hợp đối với khái niệm của từng NTGTT như Khái niệm giữa người bị hại với nguyên đơn dân sự; người có nghĩa vụ liên quan với bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Cần quy định loại trừ những chủ thể được xác định là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bị hại thì không phải là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, trừ một người có thể tham gia hai tư cách bởi vì khái niệm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mang phạm vi rất tư, bổ sung quy định về người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vào điều luật quy định về họ; đồng thời xác định đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo, người bị hại phải là đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp bị can, bị cáo ủy quyền cho người khác thuê người bào chữa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đại diện theo ủy Giải pháp về thực tiễnThứ nhất, về hình thức xác định tư cách NTGTT trong các giai đoạn tố tụng. Để có cơ sở xác định đúng tư cách NTGTT trong từng giai đoạn tố tụng, các cơ quan, NTHTT cần phải xác định rõ tư cách của mỗi chủ thể có thể kèm theo lời khai của họ trong các văn bản kết thúc các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm để cơ quan có thẩm quyền ở giai đoạn tố tụng sau biết được việc xác định tư cách của NTGTT ở giai đoạn tố tụng trước có đúng quy định pháp luật hay không. Cơ quan điều tra, viện kiểm sát cần tránh ghi gộp chung tất cả các tư cách cũng như ghi thừa tư cách NTGTT trong văn bản kết thúc giai đoạn tố tụng thuộc thẩm quyền của mình. Riêng viện kiểm sát, tránh sự sai sót trong việc xác định tư cách NTGTT trong cáo trạng hay quyết định truy tố với danh sách những người cần triệu tập đến tòa. Đối với tòa án, trước khi ban hành quyết định xét xử, thẩm phán, thư ký tòa án cần nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án để xác định đúng tư cách hai, NTHTT phải nắm vững quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tư cách của từng NTGTT để dễ dàng áp dụng. Từng CQTHTT cần phải quán triệt quy định về NTGTT trong BLTTHS và văn bản hướng dẫn đến tất cả những NTHTT trong cơ quan để thống nhất áp dụng. Khi có sự hiểu khác nhau về tư cách NTGTT, các CQTHTT cần phải thống nhất khi họp phối hợp ba ngành hàng tháng hoặc có thể họp bất thường để tránh việc phải trả hồ sơ điều tra bổ sung cũng như tránh bị sửa, hủy án sau khi xét xử. 1. Tố tụng là gì?2. Thủ tục tố tụng Hình sự, Dân sự, Hành Thủ tục tố tụng Hình Giai đoạn khởi Giai đoạn truy Giai đoạn xét Thủ tục tố tụng dân Thụ lý vụ Hòa giải vụ Chuẩn bị xét Mở phiên tòa xét Thủ tục tố tụng hành Thụ lý vụ Chuẩn bị xét Đưa vụ án ra xét xử sơ Xét xử phúc Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hành Tái thẩm vụ án hành chínhCó thể nói tố tụng là gì vẫn là câu hỏi mà rất nhiều người thắc mắc khi tìm hiểu về các quy định pháp luật trong các ngành luật tố tụng. Mỗi ngành luật có quy định về thủ tục tố tụng riêng biệt; trên cơ sở tuân thủ quy định của Hiến pháp, pháp luật và các quy định đường lối của Đảng và Nhà nước. Trong bài viết này chúng tôi thông tin đến các bạn Tố tụng là gì và các thủ tục tố tụng ở Việt Nam được quy định như thế tụng là Tố tụng là gì?Tố tụng là một bộ phận pháp luật quy định tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến trình tự, thủ tục tố tụng bao gồm tố tụng hành chính, tố tụng hình sự và tố tụng dân sự,…Thủ tục tố tụng được quy định bởi một quy trình có trật tự mà những người tham gia có thể đưa ra bằng chứng chứng minh cho yêu cầu của họ và tranh luận để diễn giải cụ thể yêu cầu và hoàn cảnh cụ thể của họ. Sau đó những cá nhân, cơ quan đóng vai trò phán xét sẽ có trách nhiệm đưa ra phán quyết dựa trên những vấn đề thực tiễn và pháp tế thủ tục tố tụng mang đậm nét quyền uy, trong đó nhà nước áp đặt quyền lực của mình dựa trên những bản án, quyết định của cơ quan thi hành án đối với các đương sự trong tố nay ở nước ta có 3 loại hình tố tụng bao gồm Tố tụng dân sự, Tố tụng hình sự, Tố tụng hành thủ tục tố tụng trên vừa mang những nét riêng vừa phải đảm bảo những nguyên tắc chung của pháp luật Việt Nam nhưĐảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa;Đảm bảo quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật;Đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân;Bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân;Đảm bảo sự vô tư của những người tiến hành và người tham gia tố tụng;Thẩm phán và Hội đồng xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật;Tòa án xét xử tập thể và công khai;Thực hiện chế độ hai cấp xét xử, giám đốc thẩm và tái thẩm;Tuân thủ việc thi hành bản án sau khi đã có quyết định, bản án của Tòa Thủ tục tố tụng Hình sự, Dân sự, Hành Thủ tục tố tụng Hình Giai đoạn khởi tốLà giai đoạn đầu của tố tụng hình sự, các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có tội phạm để đưa ra những quyết định như sau– Khởi tố vụ án hình sự Khi xác định có dấu hiệu tội phạm cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Kể từ khi ra quyết định khởi tố Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra để điều tra.– Điều tra vụ án hình sự Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là xác định tội phạm và người thực hiện tội phạm; xác định thiệt hại do tội phạm gây ra; xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.– Khởi tố bị can Sau khi có căn cứ xác định một người thực hiện hành vi phạm tội thì cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố bị can. Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can và gửi ngay cho Cơ quan điều Giai đoạn truy tốKể từ khi nhận được hồ sơ vụ án Viện kiểm sát phải đưa ra những quyết định sau Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; Trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung; Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm Giai đoạn xét xửGiai đoạn này bao gồm– Xét xử sơ thẩm Thủ tục bắt đầu phiên tòa, Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa, thủ tục tranh luận, Thủ tục nghị án và tuyên xử phúc thẩm Thủ tục phúc thẩm được thực hiện khi có kháng cáo hoặc kháng nghị bản án của Tòa án sơ thẩm.– Thi hành bản án, quyết định của Tòa án.– Xét lại các bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm, tái Thủ tục tố tụng dân sựTố tụng dân Thụ lý vụ ánThủ tục tố tụng dân sự bắt đầu khi có đơn khởi kiện. Tòa án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Sau khi nhận đơn Tòa án phải đưa ra một trong những phán quyết sau Thụ lý vụ án, chuyển đơn khởi kiện, trả lại đơn khởi Hòa giải vụ ánTrừ những trường hợp không được hòa giải, nếu hòa giải không thành thì tiếp tục đưa vụ án ra giải Chuẩn bị xét xửTrong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tùy trường hợp thẩm phán đưa ra những quyết định sau Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; Đưa vụ án ra xét Mở phiên tòa xét xử– Thủ tục tiến hành sơ thẩm Chuẩn bị khai mạc phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa, nghị án và tuyên án, Thủ tục Giám đốc thẩm, Thủ tục tái thẩm. Thi hành án dân sự theo quyết định, bản án có hiệu lực của pháp Thủ tục tố tụng hành Thụ lý vụ ánSau khi nhận đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, nếu Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện xét thấy vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết thì thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí; trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì thông báo cho người khởi kiện biết về việc thụ lý vụ Chuẩn bị xét xửThời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án, trừ vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri được quy định như sau Quyết định kỷ luật buộc thôi việc hoặc quyết định giải quyết khiếu nại vụ Đưa vụ án ra xét xử sơ thẩmTrong thời hạn 20 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa, các quyết định được đưa ra trong giai đoạn này bao gồm Tạm đình chỉ giải quyết vụ án; Đình chỉ giải quyết vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Sau khi tranh tụng tại tòa thì Tòa sẽ Nghị án và tuyên Xét xử phúc thẩm Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo cho người kháng cáo biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật, nếu họ không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hành chínhGiám đốc thẩm là thủ tục chỉ được tiến hành khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp đương sự không đồng tình với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì họ chỉ có quyền đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực theo thủ tục giám đốc định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải gửi quyết định giám đốc thẩm cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên Tái thẩm vụ án hành chínhTái thẩm vụ án hành chính là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó. Trong trường hợp đương sự không đồng tình với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì họ chỉ có quyền đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực theo thủ tục tái thẩm. Đương sự trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự. Do đó, việc xác định đương sự đóng vai trò vô cùng quan trọng và được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Vậy tư cách đương sự ở là gì? Làm sao để xác định tư cách đương sự. Mời bạn đọc theo dõi bài viết sau đây của ACC. Tư cách đương sự là gì?1. Khái niệm đương sự trong việc dân sựTrong các vụ việc dân sự, có một số người tham gia tố tụng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự tham gia tố tụng với mục đích là bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp của mình. Họ là đối tượng trong vụ việc được toà án giải qụyết. Trong một số trường hợp tuy họ không có quyền, lợi ích liên quan đến vụ việc dân sự nhưng lại tham gia tố tụng để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước trong lĩnh vực được giaọ phụ trách. Hoạt động tố tụng của họ có ảnh hưởng lớn đẹn quá trình giải quyết vụ việc dân sự, có thể dẫn đến việc phát sinh, thay đổi hoặc đình chỉ tố tụng. Những người tham gia tố tụng này được gọi là đương sự trong vụ việc dân sự trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự trong việc dân sự là cơ quan tổ chức cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền, lợi nghĩa vụ liên đương sự tham gia quan hệ pháp luật một cách chủ động nhằm bảo vệ quyền lợi của chính mình hoặc của người khác. Bộ luật tố tụng dân sự 2015 cũng quy định rất cụ thể về thế nào là đương sự trong vụ việc dân sự, và cũng quy định cụ thể từng đương sự sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự trong vụ án dân sự chính là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân định tư cách của đương sự trong tố tụng dân sự tức là xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân Tư cách nguyên đơnTheo quy định tại khoản 2 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì nguyên đơn trong vụ án dân sự là “..người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn.”Như vậy, nguyên đơn trong vụ án dân sự không những chỉ là người khởi kiện hay người được cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật tố tụng dân sự quy định khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm mà nguyên đơn trong vụ án dân sự còn là cơ quan, tổ chức khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách. Việc tham gia tố tụng của nguyên đơn mang tính chủ động hơn so với các đương sự khác. Hoạt động tố tụng của nguyên đơn có thể dẫn đến việc làm phát sinh, thay đổi hay đình chỉ tố Tư cách bị đơn Theo quy định tại khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì“Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”.Như vậy, để được xác định tư cách bị đơn cần có các đặc điểm sauLà người bị nguyên đơn hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự khởi đơn là người được giả thiết là có tranh chấp hay xâm phạm đến quyền lợi của nguyên Tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định“Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.3. Năng lực tố tụng dân sự của đương sự trong vụ án dân sựNăng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự là hai yếu tố cấu thành năng lực chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự là một loại chủ thể của quan hệ pháp luật Tố tụng dân sự nên để tham gia vào quan hệ pháp luật Tố tụng dân sự thì đương sự phải có Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và Năng lực hành vi tố tụng dân lực pháp luật tố tụng dân sự của đương sự Là khả năng pháp luật quy định cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác có các quyền và nghĩa vụ Tố tụng dân lực pháp luật tố tụng dân sự là Năng lực pháp luật dân sự có mối quan hệ mật thiết với nhau. Năng lực pháp luật dân sự là cơ sở của Năng lực pháp luật tố tụng dân sự. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cá nhân luôn gắn liền với sự tồn tại của cá nhân từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của tổ chức xuất hiện khi tổ chức đó được thành lập và mất đi khi tổ chức đó không còn tồn tại.“Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” khoản 1 Điều 69 Bộ luật tố tụng dân sựkhông thể bị hạn chế hoặc bị tước đoạt các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự. Như vậy, đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật Tố tụng dân sự là các chủ thể có quyền bình đẳng về quyền và nghĩa lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự Là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ Tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia Tố tụng dân sự khoản 2, Điều 69 Bộ luật tố tụng dân sự khác với NLPL tố tụng của đương sự, Năng lực hành vi tố tụng dân sự là yếu tố luôn có sự biến động và được xác định ở các mức độ khác nhau. Nếu Năng lực pháp luật tố tụng dân sự là như nhau thì Năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ Tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia Tố tụng dân sự khoản 2, Điều 69 Bộ luật tố tụng dân sự.Trên đây là những thông tin ACC muốn chia sẻ đến độc giả về Tư cách đương sự là gì. Trong quá trình tìm hiểu, nếu quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc nào về bài viết hay cần hỗ trợ pháp lý vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và giải đáp. ✅ Dịch vụ thành lập công ty ⭕ ACC cung cấp dịch vụ thành lập công ty/ thành lập doanh nghiệp trọn vẹn chuyên nghiệp đến quý khách hàng toàn quốc ✅ Đăng ký giấy phép kinh doanh ⭐ Thủ tục bắt buộc phải thực hiện để cá nhân, tổ chức được phép tiến hành hoạt động kinh doanh của mình ✅ Dịch vụ ly hôn ⭕ Với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn ly hôn, chúng tôi tin tưởng rằng có thể hỗ trợ và giúp đỡ bạn ✅ Dịch vụ kế toán ⭐ Với trình độ chuyên môn rất cao về kế toán và thuế sẽ đảm bảo thực hiện báo cáo đúng quy định pháp luật ✅ Dịch vụ kiểm toán ⭕ Đảm bảo cung cấp chất lượng dịch vụ tốt và đưa ra những giải pháp cho doanh nghiệp để tối ưu hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hoạt động khác ✅ Dịch vụ làm hộ chiếu ⭕ Giúp bạn rút ngắn thời gian nhận hộ chiếu, hỗ trợ khách hàng các dịch vụ liên quan và cam kết bảo mật thông tin Tố tụng là gì?Thủ tục tố tụng dân sự là gì?Dịch vụ tư vấn tố tụng Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, các chủ thể thường thắc mắc thủ tục tố tụng là gì? Để giải đáp thắc mắc đó, chúng tôi sẽ cung cấp các thông tin hữu ích trong vấn đề này tới Quý vị trong bài viết dưới tụng là gì?Tố tụng là một bộ phận trong pháp luật bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến trình tự, thủ tục trang tụng như các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng lao động, tố tụng hành chính,…Có thể nói thủ tục tố tụng được thực hiện trong nhiều quan hệ pháp luật khác nhau, đối với mỗi quan hệ pháp luật cụ thể sẽ có những quy định khác nhau trong thủ tục tố vì phạm vi của thủ tục tố tụng rất rộng lớn, nên trong bài viết này Luật Hoàng Phi xin đề cập trong bài về lĩnh vực dân sự bởi đây cũng là vấn đề đang được quan tâm của rất nhiều người hiện tục tố tụng dân sự là gì?Trước khi tìm hiểu về thủ tục này được diễn ra như thế nào, chúng ta cần tìm hiểu trong lĩnh vực pháp luật dân sự thì tố tụng là gì bởi vì khái niệm của tố tụng trong lĩnh vực dân sự rất rộng cần phải có sự tìm hiểu kỹ tụng dân sự là trình tự, thủ tục yêu cầu hoặc khởi kiện Tòa án nhân dân để có thể xem xét và phân giải công bằng cho việc dân sự hoặc vụ án dân sự mà mình cần giải quyết, cùng với đó là các quy định khác có liên tục tố tụng dân sự được quy định gồm nhiều bước khác nhau, tuy nhiên để tóm lược thông tin chính thì có thể được liệt kê làm 04 bước khi tiến hành giải quyết vụ án dân sự, cụ thể gồm– Thụ lý án. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết sẽ căn cứ quy định quyền hạn của mình để có thể tiếp nhận các hồ sơ khởi kiện và trả lời rằng có hoặc không có thẩm quyền tiếp nhận đơn cho người khởi kiện;– Hòa giải vụ án dân sự. Thẩm phán trụ trì hòa giải, nếu các bên không tìm được thỏa thuận chung thì sẽ được tiến hành xét xử;– Chuẩn bị xét xử. Tùy từng lĩnh vực khác nhau trong quan hệ pháp luật dân sự, Tòa án sẽ được chuẩn bị các hồ sơ, tài liệu để chuẩn bị mở phiên tòa xét xử.– Mở phiên tòa xét xử thì Tòa án nhân dân sẽ căn cứ theo quy định của pháp luật cùng các chứng cứ mà đương sự khiếu nại để giải đây là các bước cơ bản trong quá trình đi đến xét xử một vụ án dân sự, để hiểu tố tụng là gì trong lĩnh vực dân sự thì Quý vị có thể tìm hiểu các bài viết liên quan trên website Luật Hoàng Phi hoặc yêu cầu hỗ trợ pháp lý qua tổng đài của công vụ tư vấn tố tụng Chúng tôi có hơn 10 năm kinh nghiệm trong các lĩnh vực khác nhau về tố tụng dân sự, chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ tư vấn pháp lý cho Quý vị thông qua Tổng đài hạn chế tối đa những rủi ro mà mình có thể gặp phải, chúng tôi khuyên các Quý vị nên tham khảo và tìm hiểu thật kỹ các quy định pháp luật. Hiểu rõ tố tụng là gì sau đó mới có thể xác định được vụ việc cụ thể của mình có cần tham gia hoạt động tố tụng để giải quyết vọng với những chia sẻ trên, Quý vị có thể hiểu được tố tụng là gì đồng thời nếu Quý khách hàng có thắc mắc liên quan vui lòng liên hệ qua Hotline tư vấn 19006557; - Trong bài viết tác giả đề cập đến xác định tư cách tham gia tố tụng của bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Chương IV, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 BLTTHS quy định về người tham gia tố tụng, trong đó Điều 55 quy định có 20 tư cách người tham gia tố tụng và được cụ thể từ Điều 56 đến Điều 70; các Điều 72, 83, 84 và Điều 434 để giải thích về khái niệm, quyền, nghĩa vụ của từng người tham gia tố tụng. Thực tiễn việc xác định tư cách người tham gia tố tụng là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo rất rõ ràng, dễ xác định, còn đối với người tham gia tố tụng là bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong từng vụ án cụ thể rất khó xác định, dẫn đến những cách hiểu, quan điểm khác nhau. 1. Quan điểm khác nhau khi áp dụng Những quy định của BLTTHS là phù hợp, tuy nhiên trong thực tiễn việc xác định tư cách bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; giữa nguyên đơn dân sự với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; giữa bị đơn dân sự với bị hại còn có những quan điểm và ý kiến trái ngược nhau, dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết vụ án. Sau đây tác giả phân tích những trường hợp cụ thể a Xác định tư cách tham gia tố tụng của bị hại với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ví dụ 1 Do có mẫu thuẫn từ trước, A dùng dao chém B. B hoảng sợ bỏ chạy, A đã ném dao về phía B nhưng vô tình lại ném trúng C là người đi đường. Hậu quả B bị thương tích tỷ lệ 30%, C bị thương tích 9% và C không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với A. Trường hợp này xác định tư cách tham gia tố tụng của C như thế nào, là bị hại hay là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Quan điểm thứ nhất cho rằng A đã có hành vi dùng dao chém B, ném dao về phía B nhưng lại gây thương tích cho C là người đi đường, xác định ý chí chủ quan của A là nhằm cố ý gây thương tích, tổn hại cho sức khỏe của B, không nhằm gây thương tích cho C. Trường hợp này xác định B là bị hại, C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vì ý chí chủ quan của A không nhằm gây thương tích cho C và C cũng không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với A nên không thể xác định C là bị hại. Quan điểm thứ hai cho rằng A có hành vi dùng dao chém B gây thương tích và ném dao gây thương tích cho C, mặc dù ý chí chủ quan của A nhằm gây tổn hại cho sức khỏe của B, không nhằm gây tổn hại cho sức khỏe của C, nhưng thực tế khách quan buộc B phải nhận thức rằng hành vi dùng dao ném B, ngoài việc có thể gây thương tích cho B, có thể sẽ gây thương tích cho người khác, vì vậy căn cứ vào hậu quả A gây ra phải xác định B và C là bị hại trong vụ án, mới đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho C. Quan điểm tác giả Đồng tình với quan điểm thứ nhất, mặc dù A có hành vi dùng dao chém, ném dao về phía B, gây thương tích cho B và C người đi đường, tuy nhiên xác định tư cách tham gia tố tụng B là bị hại và C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bởi lẽ, ý chí chủ quan của A nhằm gây thương tích cho B, không nhằm gây thương tích cho C, A chỉ vô tình ném dao trúng C. Mặt khác, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác với tỷ lệ thương tật dưới 11% phải có đơn yêu cầu của bị hại thì cơ quan tiến hành tố tụng mới xử lý và xác định tư cách tham gia tố tụng là bị hại. Trường hợp này mặc dù trên thực tế C có bị tổn hại về sức khỏe do A gây ra nhưng C không có yêu cầu xử lý hình sự, vì vậy xác định tư cách của C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án liên quan đến vấn đề tiền cấp cứu điều trị cho C là phù hợp. Ví dụ 2 A và B có quan hệ là anh em trong gia đình, A mượn B chiếc xe mô tô Exciter để sử dụng. Ngày 23/1/2021 khi A nhậu tại quán C ở huyện Y, A để chiếc xe mô tô bên ngoài không khóa cổ thì bị D lấy trộm, trị giá chiếc xe mô tô Exciter là D bị xử lý về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1, Điều 173 BLHS năm 2015. Trong vụ án này có những quan điểm khác nhau về xác định tư cách bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Quan điểm thứ nhất cho rằng Xác định tư cách tham gia tố tụng của A là bị hại, B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, mặc dù A chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, không có quyền định đoạt chiếc xe mô tô Exciter. Bởi vì trên thực tế A là người đang trực tiếp quản lý và sử dụng hợp pháp chiếc xe Exciter, xe bị mất trộm A phải có trách nhiệm bồi thường tài sản cho B. B tuy là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhưng xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Quan điểm thứ hai cho rằng Xác định tư cách tham gia tố tụng của B là bị hại, A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bởi vì B là chủ sở hữu chiếc xe Exciter, B mới có quyền định đoạt, A chỉ được giao quyền chiếm hữu, sử dụng nhưng không có quyền định đoạt, xe mô tô bị lấy trộm, B bị thiệt hại về tài sản, A không bị thiệt hại về tài sản. Quan điểm tác giả Đồng tình với quan điểm thứ nhất, người đang quản lý hoặc trông giữ hợp pháp tài sản là bị hại trong vụ án hình sự vì thiệt hại của họ là đối tượng tác động trực tiếp của tội phạm, tức là có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả của tội phạm gây ra, còn chủ sở hữu tài sản là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. b Xác định tư cách tham gia tố tụng của nguyên đơn dân sự với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Thực tiễn cho thấy, việc phân biệt và xác định tư cách tố tụng của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gặp vướng mắc, có những quan điểm khác nhau. Ví dụ A và B là hai quân nhân thuộc đơn vị D. A đánh B gây thương tích cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện quân y C. Sau khi B ra viện, Bệnh viện quân y C đã làm thủ tục thanh toán với Cơ quan bảo hiểm quân đội. A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015. Trường hợp này xác định tư cách tham gia tố tụng của Bệnh viện quân y C và Cơ quan bảo hiểm quân đội như thế nào? Cơ quan nào là nguyên đơn dân sự, cơ quan nào là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án? Quan điểm thứ nhất cho rằng Trường hợp này A phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra đối với B. Luật Bảo hiểm quy định các trường hợp không được chi trả như thiệt hại do tội phạm gây ra như gây tai nạn giao thông, đánh nhau gây thương tích… A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích và bị kết tội có cơ sở khẳng định trường hợp này việc cứu chữa, điều trị cho B thuộc trường hợp bảo hiểm không chi trả, về nguyên tắc A phải bồi thường cho B nhưng chi phí điều trị đã được Bệnh viện quân y C thanh toán, vì vậy, xác định tư cách tham gia tố tụng của Bệnh viện quân y C là nguyên đơn dân sự, cơ quan bảo hiểm quân đội là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Quan điểm thứ hai cho rằng Chi phí mà Bệnh viện quân y C chi trả cấp cứu, điều trị cho B thì A phải bồi hoàn, cần được xem xét lại vì cho đến nay không có quy định ngân sách cấp cho quân y chỉ dùng cho trường hợp bình thường, không dùng cho trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật. Hoạt động bảo hiểm và hoạt động bảo đảm quốc phòng cho các cơ sở quân y là khác nhau về bản chất, mục đích và cách chi trả. Cho nên không thể vận dụng Luật bảo hiểm cho hoạt động bảo đảm của các cơ sở quân y. Cơ quan bảo hiểm quân đội đã chi trả số tiền cấp cứu điều trị B cho Bệnh viện quân y C, vì vậy xác định tư cách tham gia tố tụng của Cơ quan bảo hiểm quân đội là nguyên đơn dân sự mới đúng, Bệnh viện quân y C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Quan điểm tác giả Đồng tình với quan điểm thứ hai, trường hợp trên xác định tư cách tham gia tố tụng của Cơ quan Bảo hiểm quân đội là nguyên đơn dân sự vì bị tội phạm gây thiệt hại gián tiếp nếu cơ quan Bảo hiểm quân đội có đơn yêu cầu A bồi hoàn tiền cấp cứu điều trị, Bệnh viện quân y C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vì đã chi trả tiền cấp cứu điều trị cho B cơ quan bảo hiểu đã thanh toán lại tiền cấp cứu điều trị cho Bệnh viện. Nếu cơ quan bảo hiểm quân đội không có đơn yêu cầu A hoàn lại tiền cấp cứu điều trị B, thì xác định tư cách tham gia tố tụng của cơ quan bảo hiểm quân đội là người làm chứng. Theo hướng dẫn của Tòa án quân sự Trung ương, việc xác định tư cách tham gia tố tụng đối với trường hợp trên như sau Nếu Bệnh viện quân y đã làm hồ sơ thanh quyết toán và được Cơ quan Bảo hiểm quân đội duyệt chi thì xác định Cơ quan Bảo hiểm quân đội là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và buộc bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này cho cơ quan bảo hiểm quân đội. Trường hợp Bệnh viện quân y đã chi trả và thanh toán tiền chi phí cứu chữa cho bị hại là quân nhân nhưng chưa được cơ quan Bảo hiểm quân đội thanh toán thì vẫn xác định Bệnh viện quân y là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; xác định cơ quan bảo hiểm quân đội là nguyên đơn dân sự nếu có đơn yêu cầu bị cáo bồi hoàn chi phí cấp cứu điều trị. c Xác định tư cách tham gia tố tụng của bị đơn dân sự với bị hại Việc xác định tư cách tham gia tố tụng của bị đơn dân sự với bị hại trong trường hợp cụ thể còn có những quan điểm khác nhau. Ví dụ Công ty B thuê A lái xe ô tô. A gây tai nạn làm C, D chết, gây thiệt hại về tài sản xe ô tô của Công ty B trên 100 triệu đồng. A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm d khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015. Xác định C, D là bị hại, xác định tư cách tham gia tố tụng của Công ty B là bị đơn dân sự, bị hại hay với tư cách tham gia tố tụng gì? Quan điểm thứ nhất cho rằng Xác định tư cách tham gia tố tụng của C, D và Công ty B đều là bị hại bởi A gây thiệt hại về tính mạng cho C, D và gây thiệt hại về tài sản cho Công ty B trên 100 triệu đồng. A phải có trách nhiệm bồi thường tổn thất về tính mạng cho C, D và thiệt hại về tài sản cho Công ty B. Quan điểm thứ hai cho rằng Trường hợp này Tòa án thu thập hợp đồng lao động ký kết giữa Công ty B với A để xử lý, nếu trong hợp đồng quy định trường hợp gây tai nạn A hoàn toàn chịu trách nhiệm bồi thường thì A phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. Xác định C, D là bị hại và xác định Công ty B là người làm chứng vì Công ty B không có trách nhiệm bồi thường tai nạn do A gây ra. Quan điểm tác giả Tòa án thu thập hợp đồng lao động ký kết giữa A và Công ty B, nếu hợp đồng quy định khi xảy ra tai nạn, Công ty B là chủ sở hữu xe phải bồi thường thì xác định Công ty B là bị đơn dân sự. Trường hợp trong hợp đồng lao động quy định A phải chịu trách nhiệm bồi thường khi xảy ra tai nạn vẫn xác định Công ty B là bị đơn dân sự bởi vì theo quy định chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải chịu trách nhiệm bồi thường cả khi không có lỗi. Sau khi thực hiện xong trách nhiệm bồi thường cho C, D và chi phí sửa xe ô tô, Công ty B có quyền yêu cầu A hoàn trả lại cho Công ty B bằng vụ việc dân sự khác. 2. Đề xuất, kiến nghị a Hoàn thiện pháp luật về xác định tư cách người tham gia tố tụng Từ phân tích trên, để hoàn thiện pháp luật về xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị như sau Thứ nhất, cơ quan có thẩm quyền cần quy định rõ hơn hoặc có sự giải thích phù hợp đối với khái niệm của người tham gia tố tụng hay bị nhầm lẫn như bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Cần quy định loại trừ những chủ thể được xác định là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, bị hại thì không phải là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án bởi vì khái niệm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có phạm vi rộng. Thứ hai, bổ sung điều luật quy định về người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo, đồng thời xác định người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo phải là đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp bị can, bị cáo ủy quyền cho người khác thuê người bào chữa; người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là đại diện theo ủy quyền. Thứ ba, bổ sung vào khoản 1 Điều 71 BLTTHS năm 2015 trách nhiệm xác định chính xác tư cách người tham gia tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng để đảm bảo quyền của từng chủ thể khi tham gia vào vụ án hình sự “Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm xác định chính xác tư cách người tham gia tố tụng, thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này”. b Giải pháp về thực tiễn Các cơ quan, người tiến hành tố tụng cần xác định rõ tư cách tham gia tố tụng của mỗi chủ thể trong các văn bản kết thúc các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm để cơ quan có thẩm quyền ở giai đoạn tố tụng sau biết việc xác định tư cách người tham gia tố tụng ở giai đoạn tố tụng trước có đúng quy định pháp luật hay không. Đối với Tòa án, trước khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cần nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án để xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng. Khi có những quan điểm, cách hiểu khác nhau về xác định tư cách người tham gia tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải phối hợp họp ba ngành để thống nhất, tránh việc phải trả hồ sơ điều tra bổ sung cũng như tránh bị hủy án sau xét xử. Tóm lại Trong một vụ án nhưng xác định tư cách tham gia tố tụng lại có những cách hiểu, quan điểm khác nhau. Xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng có ý nghĩa rất quan trọng, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng. Việc xác định sai tư cách người tham gia tố tụng sẽ làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ, trong một số trường hợp việc xác định không đúng tư cách người tham gia tố tụng dẫn đến xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dẫn đến phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc hủy án. Tòa án huyện Trùng Khánh, Cao Bằng xét xử vụ án cố ý gây thương tích - Ảnh Lương Lệ

tư cách tố tụng là gì