Hình ảnh nổi ban trên người bệnh giang mai. Ngoài phát ban, trong giai đoạn này người bệnh còn có triệu chứng : sốt, mệt mỏi, chán ăn, sụt cân, đau nhức xương khớp. Giai đoạn 3: Xuất hiện gôm, củ giang mai. Hình ảnh gôm giang mai. Gôm giang mai sau khi vỡ ra sẽ rất khó lành
Những điều cần biết khi oral sex. 'Yêu' bằng miệng đem lại cảm giác mới lạ và tăng độ thân mật của cặp đôi, tuy nhiên bạn cần biết được những cách để có cuộc yêu an toàn. "Yêu" bằng miệng hay còn gọi là oral sex (khẩu giao) là hình thức quan hệ tình dục có sử
Ngày 14-8, phóng viên Báo Người Lao Động đã đến xã Kim Thượng, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, nơi phát hiện 42 người bị nhiễm HIV, trong một số người đã chuyển sang giai đoạn AIDS, nghi do y sĩ dùng chung kim tiêm.. Ngược chiều tâm lý . Bà Hà Thị G. (trú tại khu Chiềng 3, xã Kim Thượng), một trong những người
Theo quy định trên, nếu biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn cố tình dụ dỗ trẻ từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi quan hệ tình dục, người từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện hành vi giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác với trẻ có thể bị áp dụng khung hình phạt nặng nhất là
Bệnh ít ảnh hưởng đến rối loạn phát âm. Về điều trị, phẫu thuật chỉnh hình đơn giản khi cử động của lưỡi bị giới hạn. Bệnh nhiễm nấm lưỡi do Candida Albican, bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nam cũng như nữ.
Chùm ảnh ngộ nghĩnh về quảng cáo khuyến mãi cuối năm tại Hà Nội: Người dân xem hàng trong lúc chờ đợi đến giờ mua sắm "Chợ đêm chỉ với 9.000 đồng" của Pico Plaza (thời gian 20h-23h từ 15/12/2008 đến 18/1/2009), tuy nhiên, không mấy người còn chen chúc để mua sản
8z39PW. Những người nhiễm HIV có nhiều khả năng phát triển các vấn đề về sức khỏe răng miệng, do virus có thể làm suy yếu hệ thống miễn dịch, khiến việc chống nhiễm trùng trở nên khó khăn Tổ chức Y tế Thế giới WHO, khoảng 40%-50% người nhiễm HIV bị nhiễm trùng miệng có thể gây ra các biến chứng ở miệng, bao gồm cả vết miệng có thể gây đau làm ảnh hưởng đến việc ăn, nuốt và uống thuốc ở người nhiễm HIV. 1. Herpes miệngHerpes miệng có thể gây ra vết loét đỏ đau ở môi, nướu, lưỡi và bên trong má. Những tổn thương này thường được gọi là vết loét lạnh hoặc mụn nước sốt. Nguyên nhân là do nhiễm virus Herpes simplex HSV.Herpes miệng do virus Herpes simplex gây nên làm loét triệu chứng khác có thể bao gồm Sốt, mệt mỏi, đau cơ, sưng hoặc đau hạch bạch huyết, cảm giác nóng rát hoặc ngứa ran gần vết cứ ai cũng có thể bị Herpes miệng, nhưng HIV làm tăng nguy cơ nhiễm trùng cơ hội, chẳng hạn như HSV. Những người nhiễm HIV không được điều trị có thể trải qua các đợt bùng phát lạnh kéo dài và nghiêm trọng rất dễ lây lan. Có thể nhiễm Herpes miệng thông qua tiếp xúc trực tiếp với nước bọt hoặc vết loét lạnh của người bị nhiễm trùng. Có thể giảm nguy cơ nhiễm HSV bằng cách không hôn hoặc chia sẻ thức ăn với người bị Herpes miệng, đặc biệt là trong khi bùng cũng có thể gây ra mụn rộp sinh dục, có thể lây truyền khi quan hệ tình dục qua đường âm đạo, hậu môn hoặc có thể điều trị bằng thuốc kháng virus uống, như acyclovir hoặc valacyclovir…2. Virus gây u nhú ở ngườiNhiễm trùng Papillomavirus HPV là phổ biến ở những người nhiễm HIV. HPV có thể gây ra những vết sưng nhỏ màu trắng, hoặc mụn cóc trên và xung quanh miệng và môi. HPV cũng có thể gây ra mụn cóc ở bộ phân sinh dục, rất dễ lây lan. Một người có thể nhiễm HPV khi quan hệ tình dục bằng miệng nếu virus xâm nhập vào máu thông qua vết cắt hoặc vết rách trong miệng, có thể gây loét miệng, khó nuốt, đau họng…Để giảm nguy cơ nhiễm trùng đường miệng bao gồm - Tiêm vaccine HPV, - Sử dụng bao cao su khi quan hệ, - Chung thủy, - Bỏ hút thuốc và các sản phẩm thuốc lá khác…Không có cách chữa trị cho HPV. Rất khó điều trị mụn cóc HPV bằng thuốc bôi, vì vậy các bác sĩ có thể cần phải loại bỏ chúng bằng phẫu Nhiệt miệngNhiệt miệng còn gọi là loét aphthous là vết loét nhỏ, nông, xuất hiện ở những mô mềm trong miệng như môi, bên trong má, nướu. Thông thường vết nhiệt ở miệng có màu trắng, đôi khi có màu vàng, viền xung quanh là màu đỏ, chúng có dạng hình tròn hoặc oval. Nhiệt miệng còn gọi là loét nhiều yếu tố nguy cơ gây nhiệt miệng như chấn thương miệng, chăng thẳng, thiếu vitamin và chức năng miễn dịch yếu. Vết loét này không lây nhiễm. Có thể giảm nguy cơ loét miệng bằng cách - Tránh và kiểm soát căng thẳng; - Tránh thực phẩm và đồ uống có tính axit hoặc axit; - Nhai cẩn thận để tránh làm tổn thương miệng; - Ăn một chế độ ăn uống cân bằng và lành mạnhĐối với vết loét nhẹ, súc miệng bằng nước súc miệng không kê đơn có thể làm giảm viêm và giữ cho vết loét sạch sẽ. Trong trường hợp nghiêm trọng, bác sĩ hoặc nha sĩ có thể kê toa thuốc mỡ và nước súc miệng để giảm thiểu đau đớn và trị Nấm miệngNhững người có hệ thống miễn dịch bị tổn thương có thể có nguy cơ mắc bệnh nấm miệng cao miệng là một bệnh nhiễm trùng biểu hiện dưới dạng các mảng trắng hoặc vàng trên lưỡi, vòm miệng hoặc bên trong cứ ai cũng có thể bị nấm tưa miệng, nhưng trẻ sơ sinh, người già và những người có hệ miễn dịch yếu có nguy cơ cao triệu chứng khác có thể bao gồm - Cảm giác nóng rát có thể gây khó nuốt; - Mất vị giác; - Khô miệng. Có thể điều trị tưa miệng bằng nước súc miệng chống nấm và Khô miệngHIV có thể làm cho tuyến nước bọt sưng lên, điều này có thể dẫn đến giảm sản xuất nước bọt và khô miệng. Nước bọt bảo vệ răng và nướu khỏi mảng bám và giúp chống nhiễm trùng. Khô miệng cũng có thể là tác dụng phụ của thuốc điều trị chứng khô miệng bao gồm - Khó nhai và nuốt thức ăn khô; - Khó nói; - Lưỡi đau; - Viêm lưỡi; - Loét lưỡi, hôi thể điều trị khô miệng bằng cách giữ cho miệng sạch và bổ sung nước. Nếu khô miệng kéo dài, cần đi khám để được điều trị thích hợp vì khô miệng có thể dẫn đến các biến chứng khác, chẳng hạn nbệnh nướu độc giả xem thêm video được quan tâmTrung tâm 'Hy vọng' - Lắng đọng những yêu thương
Nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người HIV là hậu quả của nhiễm 1 trong số 2 retrovirus tương tự nhau HIV-1 và HIV-2 chúng phá hủy tế bào lympho CD4+ và làm giảm khả năng miễn dịch qua trung gian tế bào, tăng nguy cơ nhiễm trùng và ung thư. Nhiễm trùng ban đầu có thể gây ra bệnh sốt không đặc hiệu. Các triệu chứng tiếp theo liên quan đến suy giảm miễn dịch – tỉ lệ thuận với mức suy giảm CD4+. HIV có thể trực tiếp tổn thương não, hệ sinh dục, thận và tim, gây suy giảm nhận thức, giảm hóc môn sinh dục, suy thận và bệnh cơ tim. Các biểu hiện bao gồm từ triệu chứng không điển hình đến hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải AIDS, được xác định bởi các bệnh nhiễm trùng cơ hội nghiêm trọng hoặc ung thư hoặc CD4 98% virion HIV trong huyết tương. Một phần nhỏ của các tế bào lympho CD4+ bị nhiễm bệnh tạo thành một hồ chứa HIV có thể tái hoạt động lại ví dụ, nếu ngừng điều trị bằng thuốc kháng vi-rút.Nhiễm HIV từ vừa đến nặng, khoảng 108 đến 109 virion được tạo ra và loại bỏ hàng ngày. Thời gian bán thải trung bình của HIV trong huyết tương là khoảng 36 giờ, khoảng 24 giờ trong tế bào và khoảng 6 giờ đối với vi rút ngoại bào. Mỗi ngày, khoảng 30% tổng gánh nặng HIV ở một người bị nhiễm được chu chuyển. Ngoài ra, 5 đến 7% tế bào CD4 chuyển giao hàng ngày và toàn bộ nhóm tế bào CD4 chu chuyển 2 ngày một lần 1 Tài liệu tham khảo sinh bệnh học Nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người HIV là hậu quả của nhiễm 1 trong số 2 retrovirus tương tự nhau HIV-1 và HIV-2 chúng phá hủy tế bào lympho CD4+ và làm giảm khả năng miễn dịch... đọc thêm . Do đó, AIDS là kết quả của sự nhân lên liên tục và nhất quán của HIV, dẫn đến việc tiêu diệt vi rút và tế bào lympho CD4 qua trung gian miễn dịch. Hơn nữa, khối lượng cao của việc sao chép HIV và tần suất cao các lỗi sao chép bằng phương pháp sao chép ngược HIV cho kết quả là nhiều đột biến, tăng khả năng tạo ra các dòng kháng miễn dịch của vật chủ và kháng thuốc. Hai hậu quả chính của nhiễm HIV là Tổn thương cho hệ thống miễn dịch, đặc biệt là sự suy giảm của tế bào lympho CD4+Hoạt hóa miễn dịch Tế bào lympho CD4+ liên quan đến đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào và, ở mức độ thấp hơn, miễn dịch dịch thể. Sự suy giảm CD4+ có thể là kết quả của những điều sau Tác dụng gây độc trực tiếp của sự nhân lên HIVNhiễm độc miễn dịch qua trung gian tế bàoTổn thương tuyến ức làm hư hỏng sản xuất bạch cầu lymphoCác tế bào lympho CD4+ bị nhiễm có thời gian bán hủy khoảng 2 ngày, ngắn hơn nhiều so với các tế bào CD4+ không nhiễm. Tỷ lệ phá hủy CD4+ bạch cầu lympho tương quan với nồng độ HIV trong huyết tương. Thông thường, trong giai đoạn nhiễm trùng ban đầu hoặc tiên phát, mức độ HIV cao nhất > 106 bản sao/mL, và số lượng CD4 giảm nhanh lượng CD4 bình thường là khoảng 750/mcL, và miễn dịch bị ảnh hưởng tối thiểu nếu đếm là > 350/mcL. Nếu số lượng giảm xuống dưới khoảng 200/mcL, sự mất miễn dịch qua trung gian tế bào cho phép một loạt các mầm bệnh cơ hội được kích hoạt từ các trạng thái tiềm ẩn và gây ra bệnh lâm miễn dịch dịch thể cũng bị ảnh hưởng. Sự tăng sản của các tế bào B trong các hạch bạch huyết gây ra hậu quả ung thư hạch, và sự tiết ra các kháng thể đối với các kháng nguyên trước đây tăng, thường dẫn đến tăng globulin máu. Nồng độ kháng thể đặc biệt là IgG và IgA và chuẩn độ chống lại các kháng nguyên gặp phải trước đây có thể cao bất thường. Tuy nhiên, phản ứng kháng thể với kháng nguyên mới ví dụ như trong vắc-xin giảm khi lượng CD4 tăng miễn dịch bất thường có thể gây ra một phần do sự hấp thu các thành phần của vi khuẩn ruột. Sự kích hoạt hệ miễn dịch góp phần làm suy giảm CD4+ và ức chế miễn dịch bằng các cơ chế vẫn còn chưa rõ ràng. HIV cũng nhiễm vào các tế bào đơn nhân không phải lympho ví dụ như các tế bào trong da, các đại thực bào, tế bào thần kinh đệm và các tế bào não, hệ thống sinh dục, tim và thận, gây bệnh trong hệ thống cơ quan tương ứng. Trong vài tuần đầu tiên của nhiễm trùng nguyên phát, có phản ứng miễn dịch dịch thể và tế bào Miễn dịch dịch thể Các kháng thể chống HIV thường được đo lường trong vòng vài tuần sau khi phơi nhiễm; tuy nhiên, các kháng thể không thể kiểm soát hoàn toàn việc nhiễm HIV vì các dạng HIV biến đổi không được kiểm soát bởi các kháng thể chống HIV hiện tại của bệnh dịch tế bào Sự miễn dịch qua trung gian qua tế bào là một phương tiện quan trọng hơn để kiểm soát mức độ cao phơi nhiễm HIV thường là trên 106 bản sao/mL lúc đầu. Ở một phần nhỏ bệnh nhân có sự đột biến nhanh chóng của các kháng nguyên vi rút, nơi mà các chất trung gian gây độc tác dụng đến, làm phá vỡ sự kiểm soát vi rút. Số lượng CD4 Tiếp xúc với mầm bệnh cơ hộiNguy cơ nhiễm trùng cơ hội đặc biệt tăng dưới ngưỡng CD4 khoảng 200/mcL đối với một số bệnh nhiễm trùng và 50/mcL với các bệnh khác, như sauKhông điều trị, nguy cơ tiến triển đến AIDS khoảng 1-2%/năm trong 2 đến 3 năm đầu tiên của nhiễm trùng và khoảng 5 đến 6%/năm sau đó. Cuối cùng, AIDS hầu như luôn phát triển ở những bệnh nhân không được điều trị. 1. Ho DD, Neumann AU, Perelson AS, et al Rapid turnover of plasma virions and CD4 lymphocytes in HIV-1 infection. Nature 12;3736510123-6, 1995. doi Bednar MM, Sturdevant CB, Tompkins LA, et al Compartmentalization, viral evolution, and viral latency of HIV in the CNS. Curr HIV/AIDS Rep 122262-271, 2015. doi Mabvakure BM, Lambson BE, Ramdayal K, et al Evidence for both intermittent and persistent compartmentalization of HIV-1 in the female genital tract. J Virol 9310e00311-19, 2019. doi Ghosn J, Viard JP, Katlama C, et al Evidence of genotypic resistance diversity of archived and circulating viral strains in blood and semen of pre-treated HIV-infected men. AIDS London, England. 183447-457, 2004. doi Lavreys L, Baeten JM, Chohan V, et al Higher set point plasma viral load and more-severe acute HIV type 1 HIV-1 illness predict mortality among high-risk HIV-1-infected African women. Clin Infect Dis 1;4291333-9, 2006. doi Lyles RH, Muñoz A, Yamashita TE, et al Natural history of human immunodeficiency virus type 1 viremia after seroconversion and proximal to AIDS in a large cohort of homosexual men. Multicenter AIDS cohort study. J Infect Dis 1813872-80, 2000. doi Các triệu chứng và dấu hiệu nhiễm HIV Nhiễm HIV ban đầu Ban đầu, nhiễm HIV nguyên phát có thể không có triệu chứng hoặc gây triệu chứng không đặc hiệu tạm thời hội chứng nhiễm vi rút cấp tính. Hội chứng nhiễm vi rút cấp tính thường bắt đầu trong vòng 1 đến 4 tuần của nhiễm trùng và thường kéo dài từ 3 đến 14 ngày. Các triệu chứng và dấu hiệu thường bị nhầm lẫn với nhiễm bệnh bạch cầu đơn nhân hoặc các hội chứng vi rút không đặc hiệu lành tính và có thể bao gồm sốt, khó chịu, mệt mỏi, một số loại viêm da, đau họng, chứng đau khớp, bệnh hạch lympho toàn thân, và viêm màng não nhiễm khi các triệu chứng đầu tiên biến mất, hầu hết bệnh nhân, ngay cả khi không điều trị, không có triệu chứng hoặc chỉ một vài triệu chứng nhẹ, không liên tục, không đặc hiệu trong một khoảng thời gian rất khác nhau từ 2 đến 15 năm. Triệu chứng trong giai đoạn không có triệu chứng này có thể là kết quả trực tiếp từ nhiễm HIV hoặc do nhiễm trùng cơ hội. Những điều sau đây là phổ biến nhất Hạch to Mảng trắng do nấm candida miệngHerpes zosterBệnh tiêu chảy Mệt mỏiSốt với vã mồ hôi từng đợtTriệu chứng không đặc hiệu, giảm các dòng tế bào máu từ nhẹ đến trung bình ví dụ, giảm bạch cầu, thiếu máu, giảm tiểu cầu cũng phổ biến. Một số bệnh nhân trải qua sự suy kiệt tiến triển có thể liên quan đến chán ăn và tăng sự dị hoá do nhiễm trùng và sốt nhẹ hoặc tiêu chảy. Nhiễm HIV nguy hiểm Khi số lượng CD4 giảm đến 350 Tế bào/mcL được chọn ngẫu nhiên để bắt đầu điều trị ARV ngay bắt đầu ngay hoặc trì hoãn ART cho đến khi số lượng CD4 giảm xuống 95% thời gian. Tuy nhiên, duy trì mức độ tuân thủ này là khó khăn. Sự ức chế một phần giảm nồng độ RNA của HIV trong huyết tương xuống mức không thể phát hiện có thể lựa chọn cho một hoặc nhiều đột biến tích lũy của vi rút HIV làm cho vi rút kháng một phần hoặc hoàn toàn đối với một loại thuốc đơn lẻ hoặc toàn bộ các thuốc. Điều trị có thể sẽ không thành công trừ khi điều trị tiếp theo sử dụng các loại thuốc của các lớp khác mà vi rút HIV vẫn còn nhạy cảm. Bệnh nhân bị các nhiễm trùng cơ hội cấp tính có lợi từ điều trị ARV sớm bắt đầu ngay lập tức trong thời gian điều trị nhiễm trùng cơ hội. Tuy nhiên, đối với một số bệnh nhiễm trùng cơ hội, chẳng hạn như viêm màng não hoặc viêm màng não do cryptococcus, bằng chứng cho thấy điều trị ARV nên được trì hoãn cho đến khi giai đoạn đầu của điều trị bệnh này kết thúc vì tần suất tăng của các biến cố bất lợi và tử thành công của ART được đánh giá bằng cách đo nồng độ RNA HIV trong huyết tương mỗi 8 đến 12 tuần trong 4 đến 6 tháng đầu tiên hoặc cho đến khi không thể phát hiện thấy HIV và mỗi 3 đến 6 tháng sau đó. Sự gia tăng mức độ HIV là bằng chứng sớm nhất về thất bại điều trị và có thể dẫn đến sự giảm CD4 theo tháng. Duy trì với các phác đồ thuốc thất bại sẽ chọn lọc đột biến của vi rút HIV gây ra kháng thuốc nhiều hơn. Tuy nhiên, so với những loại HIV hoang dã, những đột biến này dường như không thể làm giảm được số lượng CD4, và các phác đồ thất bại thường được tiếp tục đến khi sự ngăn chặn được xác định không có hiệu điều trị không thành công, đánh giá tính nhạy cảm với thuốc kháng thuốc có thể xác định mức độ nhạy cảm của vi rút HIV đối với tất cả các loại thuốc hiện có. Các thử nghiệm về kiểu gen và kiểu hình có sẵn và có thể giúp các bác sỹ lâm sàng lựa chọn một phác đồ mới có chứa ít nhất 2 và tốt hơn là 3 loại thuốc mà chủng HIV nhạy cảm hơn. Các dòng vi rút HIV chủ yếu trong máu của những bệnh nhân đã được điều trị bằng liệu pháp kháng retrovirus có thể chuyển đổi từ chủng hoang dã qua hàng tháng đến hàng năm ví dụ nhạy cảm hơn vì những đột biến kháng thuốc sao chép chậm hơn và được thay thế bằng loại hoang dã. Do đó, nếu bệnh nhân chưa được điều trị gần đây thì mức độ kháng thuốc hoàn toàn có thể không rõ ràng qua xét nghiệm kháng thuốc, nhưng khi điều trị trở lại, những chủng có đột biến kháng thuốc thường xuất hiện từ chậm và thay thế cho chủng HIV hoang dại một lần bệnh nhân nhiễm HIV đang sử dụng các phác đồ phức tạp bao gồm nhiều viên thuốc để kiểm soát mức HIV RNA tải lượng vi rút, nhưng thông thường, không có xét nghiệm kháng HIV RNA thông thường nào được thực hiện khi điều trị vi rút không thành công. Với sự có sẵn của thuốc phối hợp thuốc mới, nhiều bệnh nhân có thể được hưởng lợi từ việc đơn giản hóa chế độ điều trị ARV, được hướng dẫn bởi Xét nghiệm kiểu gen lưu trữ DNA của HIV GenoSure Archive. Bản lưu trữ gen DNA HIV cung cấp số liệu kháng thuốc kháng vi rút HIV-1 khi không thể thực hiện được xét nghiệm HIV RNA thông thường vì bệnh nhân có nồng độ RNA HIV trong huyết tương thấp 3 tháng, có thể ngừng hóa trị dự phòng. Dự phòng ban đầu phụ thuộc vào số lượng CD4 Số CD4 < 200/mcL hoặc bệnh nấm Candida miệng họng đang mắc hoặc trước đó Dự phòng chống lại P. jirovecii viêm phổi được khuyến cáo. Thuốc trimethoprim/sulfamethoxazole TMP/SMX một lần/ngày hoặc 3 lần/tuần có hiệu quả. Một số tác dụng ngoại ý có thể được giảm thiểu bằng liều 3 lần/tuần hoặc bằng cách tăng liều dần dần. Một số bệnh nhân không thể dung nạp TMP/SMX có thể dung nạp dapsone 100 mg x 1 lần/ngày. Bệnh nhân có glucose-6-phosphate dehydrogenase G6PD Thiếu hụt glucose-6-phosphate Dehydrogenase G6PD Thiếu hụt glucose-6-phosphate dehydrogenase G6PD là một khiếm khuyết enzym liên kết X thường gặp ở những người có nguồn gốc châu Phi, có thể dẫn đến tan máu sau các bệnh cấp tính hoặc dùng... đọc thêm sự thiếu hụt có nguy cơ phát triển sự tan máu nghiêm trọng khi sử dụng dapsone và do đó, nên được sàng lọc cho sự thiếu hụt G6PD trước khi sử dụng dapsone. Đối với một số ít bệnh nhân không thể dung nạp được một trong hai loại thuốc này do tác động bất lợi sốt, giảm bạch cầu, phát ban, có thể dùng pentamidine dạng hyaluron 300 mg một lần/tháng hoặc atovaquone 1500 mg một lần/ CD4 < 50/mcL Dự phòng đối với MAC lan toả bao gồm azithromycin hoặc clarithromycin; nếu không dung nạp được cả hai loại thuốc này, có thể dùng rifabutin. Azithromycin có thể được dùng hàng tuần như hai viên 600 mg; nó cung cấp sự bảo vệ 70% tương tự như clarithromycin hàng ngày và không tương tác với các thuốc với dự phòng ban đầu đối với một số bệnh nhiễm nấm ví dụ như candida thực quản, viêm màng não do cryptococcus hoặc viêm phổi, fluconazole đường uống 100 đến 200 mg một lần/ngày hoặc 400 mg mỗi tuần là thành công nhưng được sử dụng không thường xuyên vì chi phí cao và khi chẩn đoán và điều trị của những nhiễm trùng này thường thành phòng thứ phát sau khi kiểm soát nhiễm trùng ban đầu được chỉ định nếu bệnh nhân có những điều sau đây Hướng dẫn chi tiết về dự phòng nấm bao gồm Pneumocystis, nhiễm vi rút, mycobacteria, và toxoplasma có sẵn tại ClinicalInfo. Thông thường, nên tiêm vắc-xin bất hoạt. Những loại vắc-xin này ít hiệu quả hơn ở những bệnh nhân có HIV dương tính hơn những người có HIV âm tính. 1. Rodger AJ, Cambiano V, Bruun T, et al Sexual activity without condoms and risk of HIV transmission in serodifferent couples when the HIV-positive partner is using suppressive antiretroviral therapy. JAMA 3162171-81, 2016. doi HIV xâm nhập các tế bào lympho CD4+ và do đó can thiệp vào miễn dịch qua trung gian qua tế bào, và ở mức độ thấp hơn, miễn dịch dịch lây truyền chủ yếu qua quan hệ tình dục, tiếp xúc qua đường tiêu hóa với máu bị ô nhiễm hoặc mô hoặc cơ quan cấy ghép, và lây truyền từ mẹ trước sinh và chu đột biến vi rút thường kết hợp với sự hủy hoại của hệ thống miễn dịch làm giảm đáng kể khả năng của cơ thể để xóa bỏ nhiễm trường hợp nhiễm trùng cơ hội và ung thư có thể phát triển và là nguyên nhân gây tử vong thường thấy ở những bệnh nhân không được điều đoán bằng xét nghiệm kháng thể và theo dõi bằng cách đo tải lượng vi rút và số lượng trị với sự kết hợp của các thuốc kháng retrovirus, có thể khôi phục chức năng miễn dịch ở mức bình thường ở hầu hết các bệnh nhân nếu họ uống thuốc một cách đều kỳ tư vấn cho bệnh nhân HIV về tình dục an toàn, tầm quan trọng của hoạt động thể dục thường xuyên và chế độ ăn uống lành mạnh, và giảm căng chống trước phơi nhiễm hoặc sau phơi nhiễm và dự phòng trước khi điều trị dự phòng khi được chỉ phòng ban đầu chống lại các nhiễm trùng cơ hội dựa trên số lượng CD4. Sau đây là các tài nguyên tiếng Anh có thể hữu ích. Vui lòng lưu ý rằng CẨM NANG không chịu trách nhiệm về nội dung của các tài nguyên này. National Institutes of Health's AIDSInfo HIV-related research information from the NIH’s Office of AIDS Research OAR, the National Institute Of Allergy and Infectious Diseases NIAID, and the National Library of Medicine NLMCDC Post-Exposure Prophylaxis PEP Resources for providers and consumer regarding the use of antiretroviral drugs after a single high-risk event to stop HIV seroconversion
Xã hội Chủ nhật, 1/12/2013 0921 GMT+7 0921 1/12/2013 Các cơn đau về thể xác, tinh thần luôn đeo bám những bệnh nhân mắc phải căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS. Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong 6 tháng đầu năm, trên cả nước có khoảng trường hợp nhiễm HIV/AIDS. Trong đó có trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS và người tử vong. Đây quả là con số không nhỏ, đủ khiến nhiều người bất ngờ về số người mang trên mình căn bệnh chết người này. Hôm nay là Ngày thế giới phòng chống AIDS - 1/12 với chủ đề năm 2013 "Hướng tới không còn người nhiễm mới HIV". HIV là từ viết tắt của loại virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. Virus HIV này tấn công và phá vỡ hệ thống miễn dịch là bạch cầu, làm chúng mất khả năng chiến đấu, chống lại các loại nấm, vi khuẩn, virus... xâm nhập vào cơ thể. Từ đó dẫn đến tình trạng mắc hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải - hay gọi là AIDS. Nếu không có một hệ thống miễn dịch hoạt động tốt, những người bị AIDS còn dễ mắc phải những tổn thương khác thường gây ra nhiễm trùng, dẫn đến tử vong. Trong khoảng từ 1 - 2 tháng sau khi HIV xâm nhập vào cơ thể, có từ 40% đến 90% số người sẽ trải qua các triệu chứng giống cúm. Đây còn gọi là giai đoạn sơ nhiễm, giai đoạn cửa sổ ARS. Lúc này, bệnh nhân có thể sốt 38 - 40 độ C, vã mồ hôi, mỏi mệt, đau cơ khớp, viêm họng, sưng nhiều hạch... Thời điểm này là lúc virus di chuyển vào trong máu và bắt đầu nhân rộng với số lượng lớn. Các hiện tượng viêm, sưng chính là phản ứng viêm của hệ miễn dịch. Khoảng 2 - 3 tháng sau khi sơ nhiễm, cơ thể sinh ra kháng thể đặc hiệu, lúc này xét nghiệm mới phát hiện dương tính. Giai đoạn HIV dương tính thường kéo dài 5 - 10 nǎm. Trong cơ thể, sự bảo vệ mạnh mẽ của hệ miễn dịch sẽ làm giảm số lượng của các hạt virus trong máu, dần chuyển sang giai đoạn nhiễm HIV mãn tính. Giai đoạn này có thể kéo dài từ 2 tuần cho đến 20 năm tùy từng trường hợp sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thể lực. Trong suốt giai đoạn mãn tính, virus HIV hoạt động trong các hạch bạch huyết, khiến các hạch này thường bị sưng do phản ứng với một số lượng lớn virus kẹt trong mạng lưới tế bào. Giai đoạn cận AIDS cũng không có nhiều biến chuyển. Lúc này, cơ thể dần yếu đi. Thi thoảng, bệnh nhân sẽ mắc chứng viêm xoang, viêm amidan, viêm hầu họng, viêm miệng tái diễn, hay bị mẩn ngứa, phát ban, nấm móng... Hình ảnh bàn tay của một bệnh nhân nhiễm HIV đang điều trị tại nhà tế bần ở ngoại ô thành phố Yangon Myanmar. Giai đoạn AIDS là giai đoạn cuối cùng của nhiễm HIV và cũng là kết thúc bi thảm khó tránh khỏi. Biểu hiện lâm sàng của giai đoạn này là các rối loạn liên quan đến suy giảm miễn dịch. Lúc này, người bệnh nổi hạch toàn thân kèm theo cơn sốt kéo dài trên một tháng. Kèm với đó là hiện tượng tiêu chảy dài cùng sự sút cân mạnh khoảng 10% thể trọng cơ thể. Do cơ thể mất hàng rào bảo vệ nên bất kỳ vi khuẩn, virus nào cũng có thể dễ dàng tấn công và gây bệnh. Khi bệnh tiến triển nặng hơn, cơ thể người bệnh có biểu hiện "da bọc xương" do sụt cân mạnh, nấm miệng, u phổi phát triển không ngừng... Các bệnh lý về cơ xương khớp hay viêm loét miệng hoại tử rất nhanh... Với những triệu chứng phát bệnh ở giai đoạn cuối như trên, thời gian sống sót trung bình của bệnh nhân AIDS chỉ có thể kéo dài từ 6 tháng - 2 năm. Năm 2010, các nhà nghiên cứu thuộc trường ĐH y dược Berlin Đức đã chữa trị thành công cho một người dương tính với HIV bằng cách sử dụng hóa dược liều cao cùng phương pháp xạ trị sau khi tiến hành cấy lại tế bào tủy sống. Bệnh nhân này không còn dấu hiệu của HIV, hệ thống miễn dịch của anh hoạt động bình thường. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, việc không phát hiện HIV trong máu bệnh nhân không có nghĩa rằng anh ta đã hoàn toàn khỏi bệnh HIV có thể tồn tại ẩn mình trong tế bào nội tạng trước khi sinh sôi bùng phát trở lại sau mấy năm. Giáo sư Rodolf Tauber chia sẻ "Đây mới chỉ là trường hợp đáng chú ý trong công tác nghiên cứu, những hứa hẹn sẽ chữa lành cho hàng triệu bệnh nhân nhiễm HIV chưa thực sự đáng tin. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cố gắng tìm ra những phương thuốc hữu hiệu nhất để giúp bệnh nhân mắc căn bệnh thế kỷ này". Chính bởi sự nguy hiểm của căn bệnh này, các bác sĩ khuyến cáo mọi người cần sớm phát hiện căn bệnh nhiễm HIV/AIDS khi có các dấu hiệu nghi ngờ như trên và có biện pháp phòng tránh an toàn để không lây nhiễm bệnh HIV sang cho người khác. Theo Pháp luật Xã hội HIV/AIDS bệnh tật miễn dịch y tế Bạn có thể quan tâm
20 Hình ảnh lưỡi người bình thường khỏe mạnh và lưỡi bệnh lý có thể là những biểu hiện nói lên các dấu hiệu cảnh báo về tình trạng sức khoẻ của chúng ta. Vậy để biết được thế nào là hình ảnh lưỡi khoẻ mạnh và lưỡi bệnh lý thì hãy cùng theo dõi bài viết tiết về hình ảnh lưỡi người bình thường khỏe mạnh Về cơ bản, lưỡi của chúng ta sẽ có màu sắc là hồng nhạt hoặc hồng đậm với một lớp phủ màu trắng mỏng ở bên trên và điều này thể hiện rằng lưỡi của chúng ta hoàn toàn bình thường và khỏe mạnh. Được xem là một trong những bộ phận linh hoạt nhất trên cơ thể, lưỡi được cấu tạo bởi một nhóm cơ cho phép ta có thể nuốt, nếm mùi vị và giao tiếp câu từ. Một chiếc lưỡi khoẻ mạnh sẽ có màu hồng và được phủ bởi các gai nhỏ bên trên gọi là núm. Chúng sẽ có mặt rất nhiều tại phía mặt trên và dọc hai bên thân lưỡi với kết cấu thô ráp và biểu hiện như những nốt sần nhỏ. Thực tế, với số lượng lên đến 5000 gai ở người trưởng thành, mỗi một gai nhỏ này có thể được xem là tập hợp của vô số tế bào thần kinh và còn là nơi kết nối cũng như truyền tải thông tin đến cho não Hình ảnh lưỡi bệnh lý khi phát sinh biến đổi màu Có rất nhiều bệnh lý có thể làm cho lưỡi xảy ra nhiều màu sắc khác nhau, một số có thể tự động khỏi nhưng cũng có rất nhiều cần phải được can thiệp y tế mới có thể khắc phụcĐen Sự tích tụ keratin có thể dẫn đến hiện tượng chuyển màu đen ở lưỡi. Đây là một loại protein có trong da, móng tóc và việc có quá nhiều trong cơ thể có thể dẫn đến sự đổi màu ở lưỡi và khiến nơi đây mọc nhiều lông dẫn đến màu đen. Nguyên nhân có thể đến từ việc vệ sinh răng miệng kém, dùng thuốc, xạ trị hoặc hút thuốc. Ngoài ra, việc dùng các loại thức uống sẫm màu cũng có thể làm đen lưỡi, hoặc nghiêm trọng hơn là do xuất phát từ các bệnh lý như tiểu đường hoặc Khi lưỡi trở nên nhạt màu và xuất hiện mảng trắng thì đó có thể là do nhiễm nấm từ đó khiến người bệnh bị đau và hình thành các mảng trắng hoặc đỏ dày trên lưỡi gây khó nuốt. Mặt khác, tình trạng cũng có thể xuất phát từ các bệnh như lichen phẳng hoặc bạch sản gây nên các đốm Xảy ra do ảnh hưởng từ việc lưu thông máu kém hoặc do bệnh tim. Ngoài ra, đây cũng có thể là dấu hiệu của một bệnh lý gây viêm mạch máu đó là Biểu hiện chuyển sang màu đỏ và gồ ghề có thể xuất phát từ việc thiếu hụt vitamin B hoặc bị sốt ban đỏ, hoặc cũng có thể đến từ hiện tượng dị ứng, bệnh viêm lưỡi hay là một trong những dấu hiệu khác của bệnh Tình trạng này gọi là lưỡi bản đồ được thể hiện bởi các viền trắng hình thành xung quanh các đốt trắng xám nằm trên bề mặt lưỡi. Mặt khác, việc nhiễm bệnh chàm cũng có thể là nguyên nhân gây nên hiện tượng lưỡi có màu xanh lá Thường là xuất phát từ việc vi khuẩn phát triển do vệ sinh răng miệng kém và khô miệng. Ngoài ra, đây cũng có thể là dấu hiệu thay đổi trước khi chuyển biến sang màu đen và có Nguyên nhân gây nên cũng có thể tương tự như lưỡi màu vàng. Một số loại kháng sinh và thực phẩm cũng có thể gây nên hiện tượng này ở tím Điều này thể hiện tình trạng thiếu oxy trong máu có thể là do các vấn đề như rối loạn đông máu, bệnh thận, bệnh về mạch máu hoặc thiếu oxy từ ảnh lưỡi sưng đau có thể đến từ nguyên nhân gì? Tương tự việc đổi màu, hiện tượng sưng đau ở lưỡi có thể nói lên một hoặc nhiều vấn đề xảy ra tại đây, bao gồm Chấn thương Việc va phải lưỡi do vấn đề răng miệng hoặc do té ngã chắc chắn không chỉ mang đến cảm giác đau buốt cho chúng ta, mà còn để lại vết sưng gây khó chịu không thôi. Ngoài ra, thói quen nghiến răng cũng có thể làm 2 bên lưỡi bị đau. Hút thuốc Những đối tượng thường bị nghiện thuốc sẽ có biểu hiện kích ứng và làm lưỡi bị đau. Loét Hiện tượng này có nguy cơ xảy ra nhiều hơn ở những đối tượng bị căng thẳng trong thời gian dài. Hội chứng rát bỏng miệng Hội chứng này thường xảy ra ở các chị em đang mãn kinh khiến lưỡi vô cùng khó chịu do đau rát. Ngoài các vấn đề trên, các bệnh lý như thiếu máu hoặc tiểu đường cũng có thể làm xuất hiện triệu chứng sưng đau ở lưỡi. Nhìn chung, mặc dù các biểu hiện này thường không xuất phát từ nguyên nhân gì đáng lo ngại. Nhưng nếu như tình trạng này kéo dài và có dấu hiệu phát sinh khối u không biến mất sau 2 tuần thì tốt nhất là nên đi khám vì đó có thể là biểu hiện của bệnh ung thư khoang miệng trong giai đoạn đầu. Phía trên là những chi tiết về chủ đề 20 Hình ảnh lưỡi người bình thường khỏe mạnh và lưỡi bệnh lý. Mọi người nếu còn có thắc mắc nào khác thì hãy gửi câu hỏi vào TƯ VẤN MIỄN PHÍ hoặc gọi vào số HOTLINE để được giải đáp nhanh TÂM TƯ VẤN SỨC KHOẺĐược Sở y tế cấp phép hoạt độngHotline tư vấn miễn phí 02862857515Tư vấn online bấm >> TƯ VẤN MIỄN PHÍ <<
Biểu hiện vùng miệng của nhiễm HIV – AIDS I. Mở đầu Các biểu hiện vùng miệng liên quan đến nhiễm HIV thường gặp ở bệnh nhân BN nhiễm HIV 30%- 80% nhưng ít được chú ý đến và không được xử trí đúng mức. Ngoài xuất độ cao, đây còn là một nhóm tổn thương có ý nghĩa về nhiều mặt và được chú ý đến ngay từ thời kỳ mới xuất hiện dịch bệnh vì - Những tổn thương này xảy ra trong miệng và do đó tương đối dễ phát hiện và dễ theo dõi. - Những tổn thương này thường xảy ra khi bắt đầu có tình trạng suy giảm miễn dịch và do đó mang tính báo trước cho sự chuyển giai đoạn AIDS. - Những tổn thương này ảnh hưởng đến chức năng ăn nhai nên càng làm cho bệnh nhân suy yếu hơn về thể chất và khả năng đề kháng. - Gần đây, khi BN được điều trị theo chế độ HAART, có sự thay đổi trong tỉ lệ cũng như mô hình các tổn thương niêm mạc miệng. Các yếu tố làm tăng nguy cơ bị những tổn thương vùng miệng liên quan HIV bao gồm - Số CD4 3000 phiên bản ARN/ml, tình trạng khô miệng, vệ sinh răng miệng kém, hút thuốc lá. Khi phát hiện tổn thương ở người chưa biết mình bị nhiễm HIV, sự hiện diện của tổn thương liên quan HIV khiến phải nghĩ đến tình trạng nhiễm HIV và xét nghiệm để xác định, đối với BN bị nhiễm HIV chưa điều trị ART, sự xuất hiện tổn thương là dấu hiệu bệnh đang tiến triển, đối với người nhiễm HIV đang điều trị HAART, việc xuất hiện một vài loại tổn thương là dấu hiệu của sự tăng trở lại nồng độ HIV-1 RNA trong huyết tương. II. các tổn thương niêm mạc miệng liên quan nhiễm HIV Năm 1996, Cộng đồng Kinh tế Châu Âu công bố bảng phân loại của các biểu hiện vùng miệng của bệnh nhiễm HIV như sau NHIỄM NẤM Nhiễm Candida dạng màng giả, dạng ban đỏ, dạng tân sinh, chóc mép. Nhiễm Histoplasma, Cryptococcus, Geotrichosis. NHIỄM KHUẨN Viêm nướu hoại tử - HIV, Viêm nướu- HIV, Viêm nha chu- HIV. Tổn thương viêm nhiễm do Mycobacterium avium intracellulare, Klebsiella pneumoniae, Enterobacterium cloacae, E. Coli. Actinomycosis, Bệnh mèo quào, Viêm xoang, nhiễm trùng do răng,… NHIỄM VIRUS Herpes Simplex Virus. Cytomegalovirus. Epstein- Bar virus Bạch sản tóc. Varicella – Zona virus thủy đậu, zona. Human papilloma virus Verruca vulgaris, Condyloma acuminata, Focal epithelial hyperplasia. TÂN SINH Kaposi sarcoma. Carcinoma tế bào vẩy. Lymphoma không Hodgkin. RỐI LOẠN THẦN KINH Bệnh dây thần kinh tam thoa. Liệt mặt. KHÔNG RÕ NGUYÊN NHÂN Loét áp tơ tái phát. Tiêu biểu mô do ngộ độc. Thiếu tiểu cầu nguyên phát. Khô miệng. Loét không điển hình. Chậm lành thương. Phì đại tuyến nước bọt. Tăng nhiễm sắc Melanin. NHIỄM NẤM Nhiễm Candida ngay từ những báo cáo đầu tiên năm 1981 về hội chứng AIDS đã có đề cập đến nhiễm Candida vùng miệng. Tuy nhiên, hầu như mọi trường hợp mô tả lúc đó đều ở dạng màng giả. Sau này, các dạng khác như dạng ban đỏ, tăng sinh và chóc mép đều được báo cáo với những tỉ lệ khác nhau ở người huyết thanh dương tính. Nhiễm Candida dạng màng giả hiện diện như những mảng trắng hay vàng vàng trên niêm mạc đỏ hay bình thường. Khi cạo, mảng trắng tróc ra để lại một bề mặt ướm máu. Vị trí thường gặp ở khẩu cái, niêm mạc má, môi và lưng lưỡi. Nhiễm Candida dạng tăng sinh đặc trưng là những mảng trắng không thể cạo đi được. Vị trí thường gặp là niêm mạc má, lùi về phía trong, ngược với vị trí gần khóe mép thường gặp ở những người không bị nhiễm HIV. Nhiễm Candida dạng ban đỏ hay dạng teo biểu hiện dưới dạng tổn thương màu đỏ sậm nổi bật hay rất kín đáo. Vị trí thường gặp ở khẩu cái, lưng lưỡi làm mất gai lưỡi, dạng nhiễm này tuy rất đặc trưng của nhiễm HIV nhưng thường bị bỏ qua vì ít gây triệu chứng lâm sàng và không làm cho bệnh nhân khó chịu. Chóc mép xảy ra khi bệnh nhân ở vào tuổi trung niên và không kèm theo các yếu tố bệnh căn của chóc mép thông thường như thiếu máu, thiếu vitamin, mất kích thước dọc. Tỉ lệ người nhiễm HIV có kèm nhiễm nấm candida thay đổi rất nhiều tùy theo tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm nấm và mẫu điều tra vào khoảng 66%. Nhiễm nấm candida đã được nghiên cứu như một dấu hiệu báo trước sự chuyển sang giai đoạn AIDS, đặc biệt là nhiễm candida dạng màng giả. Klein so sánh 22 bệnh nhân bị hạch toàn thân, có tỉ lệ T4/T8 đảo ngược, đồng thời bị nhiễm candida dạng màng giả, với 20 bệnh nhân ở tình trạng tương tự nhưng không bị nhiễm candida. Theo dõi trong 3 tháng cho thấy ở nhóm thứ nhất có 59% chuyển sang giai đoạn AIDS với sự xuất hiện của những nhiễm trùng cơ hội nặng, hoặc sarcom Kaposi trong khi ở nhóm thứ nhì không có người nào chuyển sang AIDS. Như vậy, có thể kết luận là một sự suy giảm số tế bào Lympho T4 cùng với sự nhiễm nấm candida là một dấu hiệu tiên lượng xấu, báo trước cho sự xuất hiện AIDS ở bệnh nhân nhiễm HIV. Chẩn đoán lâm sàng có thể xác định bằng soi tươi hoặc sinh thiết, cho thấy tế bào nấm ở dạng sợi phân nhánh hay bào tử. Điều trị tại chỗ dung dịch súc miệng tím gentian, Clotrimazole viên ngậm 10mg 5 lần/ ngày x 14 ngày, dung treo Nystatin đv. súc 5 ml x 4 lần/ ngày x 14 ngày, viên ngậm Nystatin viên đv x 4 lần/ x 14 ngày. Điều trị toàn thân Fluconazole, viên 100 mg x 2 trong ngày đầu, 1 viên/ ngày trong 14 ngày kế tiếp. NHIỄM KHUẨN Bệnh nha chu liên quan nhiễm HIV Thường có những biểu hiện trầm trọng hơn bệnh nha chu thông thường, đáp ứng kém hơn với điều trị kinh điển, tiến triển nhanh hơn, gây mất xương và lộ chân răng nhiều hơn. Viêm nướu viền đỏ Dấu hiệu thường là một đường viền đỏ ở nướu với những điểm viêm đỏ ở niêm mạc xương ổ, nướu dễ chảy máu dù vệ sinh răng miệng tốt và ít có tích tụ mảng bám. Các điểm viêm đỏ có thể do sự bội nhiễm Candida. Đôi khi thấy gai nướu sưng phồng ở vài vị trí. Nha chu viêm Mô nha chu bị tiêu hủy nhanh chóng, đau nhức nhiều, răng lung lay. Trái với bệnh nha chu thông thường, có sự tiêu mất các mô nâng đỡ nhưng túi không sâu. Có thể kèm viêm nướu lở loét hoại tử. Viêm nha chu lở loét hoại tử thường chỉ gặp ở trẻ suy dinh dưỡng, hay bị các bệnh làm suy giảm hệ thống miễn dịch. Ở người trưởng thành bị nhiễm HIV cũng dễ thấy bệnh này. Các vi khuẩn gây bệnh, ngoài một số vi khuẩn thường gặp trong các bệnh nha chu, còn có một số vi khuẩn kỵ khí có độc tính rất cao như Eikenella, Wollinella, Bacteroides, do tình trạng nhiễm HIV tạo những điều kiện thuận lợi làm cho tạp khuẩn trong khe nướu chuyển đổi sang các giống vi khuẩn có tính gây bệnh mạnh hơn. Thường các bệnh nhân bị nha chu viêm có hệ số T4/T8 thấp hơn các bệnh nhân bị viêm nướu, đồng thời có sự khiếm khuyết của chức năng bạch cầu đa nhân. Điều trị các dạng bệnh nha chu ở người nhiễm HIV phải được điều trị bằng biện pháp vệ sinh răng miệng kỹ lưỡng, có thêm biện pháp rửa các tổn thương với Betadine 10% và súc miệng hàng ngày với 0,12% chlorhexidine gluconate cho đến khi khỏi bệnh. Bệnh nhân bị đau và có tổn thương cấp tính phải được điều trị kháng sinh chống vi khuẩn yếm khí gram âm như Metronidazole viên 500 mg x 2 lần/ x 7- 10 ngày, hoặc Clindamycine và Amoxycilline. Đồng thời phải xử lý đau và tăng cường dinh dưỡng. Nhiễm khuẩn Lao Nhiễm khuẩn Lao Mycobacterium tuberculosis tăng một cách đáng kể ở người nhiễm HIV. Tổn thương do Lao trong miệng có thể xuất hiện như một vết loét ở lưỡi. Nhiễm Mycobacterium avium cellulare MAI gây nhiễm trùng phổi, trong miệng có thể tạo vết loét có phản ứng viêm hạt và hoại tử xương. Nhiễm Klebsiella pneumoniae và Enterobacterium cloacae có thể gây viêm loét ở lưỡi, khẩu cái. NHIỄM VIRUS Nhiễm Herpes Simplex Virus HSV ở bệnh nhân nhiễm HIV, viêm miệng Herpes xảy ra với tỷ lệ 5-13%, gây tổn thương trầm trọng và lan tỏa hơn là ở người không nhiễm HIV, bệnh dai dẳng, khó điều trị dứt điểm và dễ tái phát. Điều trị tại chỗ bằng Acyclovir. Nhiễm Varicella Zoster virus VZV có thể xem như một triệu chứng sớm của nhiễm HIV, ở bệnh nhân HIV khi bị nhiễm virus VZV có 23% bị AIDS sau 2 năm và 46% sau 4 năm. Điều trị toàn thân Acyclovir viên 800mg x 4 viênx 10 ngày. Nhiễm Human papilloma Virus HPV nhiễm HIV có vẻ làm cho dễ nhiễm HPV vùng miệng với những type HPV ít gặp như type 13, 18, 32 và gây tổn thương phần mềm như papilloma, verruca, condyloma, focal epithelial hyperplasia, carcinoma. Điều trị tại chỗ bằng 5-fluorouracil. Bạch sản tóc Hairy Leucoplakia Bạch sản tóc được mô tả đầu tiên vào cuối năm 1981 ở San Francisco, sau đó được ghi nhận khá phổ biến ở bệnh nhân nhiễm HIV ở nhiều nước. Đó là một tổn thương thường gặp ở bệnh nhân đang ở giai đoạn muộn của nhiễm HIV và AIDS dưới dạng một mảng màu trắng, thường thấy ở hông lưỡi, ở cả 2 bên. Bề mặt có nếp xếp giống như tóc, có khi có bề mặt phẳng, nhẵn láng. Vị trí thường gặp ở hông lưỡi, bụng lưỡi và ít gặp ở niêm mạc má, môi, sàn miệng, khẩu cái mềm, yết hầu. Có khi tổn thưong gây đau rát do bội nhiễm candida. Hình ảnh mô học cho thấy sự tăng sinh lớp gai và lớp sừng, làm cho lớp biểu mô dày lên và có khi tạo những nếp xếp hình sợi tóc. Trong lớp biểu mô thấy có những tế bào phình to hơi giống các koilocyte của nhiễm HPV. Các xét nghiệm labo cho phép phát hiện Epstein – Bar virus EBV trong các tổn thương này. Hiện nay, có 2 giả thuyết để thử giải thích tại sao EBV bội nhiễm ở niêm mạc miệng, hoặc là do nhiễm HIV làm mất tế bào Langerhans khiến cho EBV có sẵn tại chỗ được hoạt hóa hoặc thụ thể EBV trên tế bào hong lưỡi bị lộ tối đa khi nhiễm HIV, cho nên dễ gắn virus EBV. Bạch sản tóc là một tổn thương được xem là đặc trưng nhất của nhiễm HIV vùng miệng và cho phép tiên đoán sự tiến gần đến giai đoạn AIDS, tuy nhiên cần phải chẩn đoán sai biệt với một số tổn thương trắng khác. Không cần điều trị bạch sản tóc trừ khi có yêu cầu thẩm mỹ. Ở bệnh nhân được điều trị ART, sự xuất hiện của bạch sản tóc là một dấu hiệu của điều trị thất bại. TÂN SINH 3 loại tân sinh có ghi nhận liên quan đến nhiễm HIV. Những tân sinh này, hoặc là do tác nhân sinh ung, virus sinh ung làm cho ung thư xảy ra ở người suy giảm miễn dịch, hoặc là do một cơ chế gây bệnh nào khác. Sarcom Kaposi Năm 1872, Moritz Kaposi mô tả một loại bướu gọi là “Sarcom nhiều ổ nguyên phát gây xuất huyết” và xem đó là một bướu ác tính của các tế bào thành mao mạch, xuất hiện ở người Phi Châu với một tỉ lệ rất thấp. Khi dịch bệnh HIV xuất hiện ở San Francisco, sarcom Kaposi gây sự chú ý vì xuất hiện nhiều ở nhóm đồng tính luyến ái, và tác nhân gây bệnh được nghi ngờ là virus CMV, herpes... Tuy nhiên, các cố gắng để phân lập virus đều thất bại. Hiện nay, không thể loại trừ khả năng Sarcom Kaposi không phải là một loại tân sinh thật sự mà là kết quả của sự tăng sinh mạch máu do HIV kích thích một yếu tố tăng sinh mạch máu angioproliferative factor. Ở bệnh nhân AIDS, sarcom Kaposi thường có những tổn thương nhiều ổ, khởi đầu là dạng ban đỏ, sần hay hòn đỏ xuất hiện ở da hay niêm mạc. Ngoài da, vị trí hay gặp là ở thân người, chân, tay. Ở mặt vị trí đặc trưng là đầu mũi. Tổn thương ở da lan rông và sậm màu dần, và các tổn thương lân cận thì dễ dính lại với nhau. Ngoài ra, sarcom Kaposi có thể ảnh hưởng đến các phủ tạng. Trong miệng, sarcom Kaposi được để ý đầu tiên vào năm 1982 ở nhóm đồng tính luyến ái ở San Fracisco và sau đó, năm 1988, một nghiên cứu theo dõi trên 134 bệnh nhân cho thấy tổn thương này thường xuất hiện vào tuổi trung bình là 34 tuổi, 45% có đồng thời với tổn thương da và 22% xuất hiện trước. Sarcom Kaposi trong miệng có thể xem là dấu hiệu đầu tiên của giai đoạn AIDS .Vị trí thường gặp trong miệng là khẩu cái, đặc biệt là ở một bên khẩu cái, kế đến là nướu và lưỡi. Tổn thương bắt đầu như một mảng đỏ hơi xanh hay đen kế đến to dần, sậm màu và nổi gồ lên, có bề mặt lở loét hay nhiều múi. Tổn thương thường hơi rắn trước khi loét bề mặt. Hình ảnh vi thể của Sarcom Kaposi rất đặc trưng, cho thấy có sự tăng sinh những dãy tế bào nội mô hình thoi hay hơi phình, đan vào nhau và rất nhiều mạch máu. Khi Sarcom Kaposi xuất hiện đồng thời với một nhiễm trùng cơ hội, thời gian sống sót trung bình của bệnh nhân từ 6 đến 9 tháng. Sarcom Kaposi ít được ghi nhận ở BN nhiễm HIV ở Thái Lan và Việt Nam. Điều trị bằng cách tiêm Vinblastine sulfate tại tổn thương. Lymphom không Hodgkin NHL NHL xuất hiện ở bệnh nhân nhiễm HIV với tỉ lệ cao hơn ở người bình thường. NHL thường liên quan đến tế bào Lympho B va có thể chứa virus EBV. NHL rất hiếm gặp trong miệng so với các vị trí khác như hạch lympho, tủy xương, gan và màng não. Trong miệng vị trí được ghi nhận là vòng Waldeyer, nướu và tuyến mang tai, làm mô mềm tăng sinh và hủy hoại xương bên dưới. Carcinom tế bào vảy Ở bệnh nhân nhiễm HIV, có báo cáo cho thấy carcinom tế bào vẩy xuất hiện trong miệng đặc biệt ở lưỡi. Hiện nay có giả thuyết cho rằng tỉ lệ ung thư miệng cao ở người trưởng thành trẻ phái nam được cho là có thể liên quan với nhiễm HPV. KHÔ MIỆNG Khô miệng là nguyên nhân chính gây sâu răng ở người nhiễm HIV. 30%- 40% người nhiễm HIV bị khô miệng do sự thâm nhiễm tế bào CD8 trong các tuyến nước bọt lớn có thể gây phì đại tuyến hai bên hoặc do tác dụng phụ của các thuốc ART như didanosine. Những thay đổi về chất và lượng của nước bọt dễ dẫn đến sự giảm khả năng kháng khuẩn, đa sâu răng và viêm nha chu. Người nhiễm HIV nghiện ma túy hay sử dụng methamphetamine, có nguy cơ bị đa sâu răng do khô miệng, nhu cầu ăn đường cao, dinh dưỡng kém và vệ sinh răng miệng kém cùng với tác dụng soi mòn của các chất acid và chất tẩy có trong methamphetamine tinh thể. III. PHÒNG NGỪA CÁC BIỂU HIỆN VÙNG MIỆNG CỦA NHIỄM HIV Để phòng ngừa các biểu hiện miệng của nhiễn HIV cần Tăng cường các biện pháp vệ sinh răng miệng cá nhân, súc miệng bằng dung dịch tím gentian pha loãng và dung dịch kháng khuẩn, Đi khám định kỳ để điều trị sớm sâu răng, bệnh nha chu và các tổn thương khác, Thực hiện lối sống lành mạnh và chế độ dinh dưỡng cân bằng. BS. Huỳnh Anh Lan Khoa RHM – ĐH Y Dược Tp HCM
hình ảnh lưỡi người nhiễm hiv