Ngày 30/9, Đoàn khối Các cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Đắk Nông tổ chức Hội thi tìm hiểu công tác cải cách hành chính cho đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) với chủ đề: "Thanh niên đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số trong cải cách hành chính" năm 2022 với sự tham gia của hơn
Giờ chuẩn giảng dạy và thời gian giảng dạy. Giờ chuẩn giảng dạy là đơn vị thời gian quy đổi từ số giờ lao động cần thiết để hoàn thành khối lượng một công việc nhất định thuộc nhiệm vụ của giảng viên tương đương với một tiết giảng lý thuyết trình độ đại học trực tiếp trên lớp (hoặc
hài cải lương và các bài viết liên quan đến đề tài này. The Water Monster 2019 | Phim chiếu Rạp Mới Nhất 2021 | Thuyết minh | phim chiếu rạp | Tổng hợp những bộ phim hay nhất. Chí Phèo Ngoại Truyện ||Phim Hài Chiếu Rạp Việt Nam Hay Nhất 2020 Thu Trang Tiến Luật. | phim4400
Tất cả cũng vì ngày ấy, cải lương là món "độc" theo cả nghĩa độc đáo lẫn độc tôn. Tất cả cũng vì nàng là ngôi sao sáng lạ giữa những ngôi sao thuộc thế hệ vàng của cải lương Việt Nam. Tất cả cũng vì bao trái tim người mộ điệu "ghiền" nàng chết mê chết mệt, tôn vinh nàng là "nữ hoàng kiếm hiệp".. Xem giá bán Gợi ý
Việc làm nhân viên an toàn lao động. Nhân viên an toàn lao động có trách nhiệm chính trong việc bảo vệ sức khỏe con người. 1.2. Thực hiện công tác an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ. Trong nhiệm vụ đảm bảo về công tác an ninh, trật tự và phòng chống cháy nổ xảy ra khi
Phan Huy LêGiai đoạn thứ nhất từ năm 1955 cho đến khoảng năm 1965. Những người khởi xướng và đi đầu cuộc tranh luận là Trần Huy Liệu, Đào Duy Anh, Minh Tranh, Nguyễn Lương Bích (1). Một số nhà sử học nước ngoài cũng tham gia cuộc thảo luận này như J. Chesneaux, A.A. Gouber (2).
JEsE. Người Kinh Bắc tự hào khi nhắc đến dân ca quan họ. Người xứ Huế lại tự hào về những câu Nam ai, Nam bình, những điệu hò mái nhì, mái đẩy man mác. Người dân Nam bộ cũng hãnh diện khi nói về những câu cải lương mùi mẫn làm say lòng người. Cải lương là một làn điệu đặc trưng của mảnh đất phương Nam. Hay nói cách khác miền Nam của nước Việt Nam là nơi phát xuất cải lương. Con người miền Nam có một đời sống nhàn hạ, sung túc. Ruộng cò bay thắng cánh. Cá đầy sông, rạch. Không lo đói nhờ đất đai phì nhiêu, rau và lúa gạo đầy đồng. Người miền Nam mang dòng máu của những dân đến sinh sống trẽn đất Nam kỳ đầu tiên. Dân ca miền Nam phối hợp những đặc trưng của dân ca miền Bắc, miền Trung, thêm vào đó những sắc thái cổ truyền của nhạc Cao Miên, Trung Hoa, Chàm. Do đó, dân ca rất phong phú về giai điệu cũng như tiết tấu qua những điệu lý, điệu hò, nói thơ. Cải lương đầu thế kỉ XX, làm phong phú thêm cho những làn điệu dân ca đất phương Nam. Cùng vói sự ra đời của tiểu thuyết, kịch nói, thơ mới... sự ra đời Cải lương được xem như là sản phẩm mang tính tất yếu của lịch sử. Nó hình thành từ sự tiếp xúc giữa nền văn hóa nông nghiệp lúa nước và nền văn hóa công nghiệp phương Tây. Nếu như kịch nói có lịch sử lâu đời và nguồn gốc từ phương Tây, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa, của quan điểm thẩm mĩ phương Tây thì sự ra đời của Cải lương có nguồn gốc từ nghệ thuật truyền thống dân tộc và sự du nhập lối biên kịch châu Âu. Yếu tố đầu tiên mang tính cội nguồn của nghệ thuật cải lương là âm nhạc tài tử Nam bộ. Thời ấy, tuồng Hát bội không còn giữ vị trí độc tôn trong thưởng thức nghệ thuật trình diễn của đồng bào miền Nam, nên từ các vùng nông thôn bắt đầu phong trào đờn ca tài tử phục vụ trong các cuộc vui như lề cưới, lễ hỏi, đám tiệc, đám giỗ... Theo một sổ nhà nghiên cứu, tiền thân của cải lương là nhạc tài tử biến thành "ca ra bộ" tại nhà Ông Cai tổng Tống Hữu Định Ồng Phó 12 tại Vĩnh Long năm 1917. Khi ca bài Tứ đại oán với tích Bùi Kiệm thi rớt trở về, cô Ba Định, vai Nguyệt Nga, ông giáo Diệp Minh Kỷ đóng vai Bùi Kiệm, ông Giáo Du, vai Bùi ông, vừa ca vừa ra bộ. Và từ đó đã sinh ra loại "Ca ra bộ". Sự khởi đầu của hình thức này được đánh dấu tại cuộc trình diễn của nhóm ca nhạc tài tử trên sân khấu hộp trong đó có cô Ba Đắc tại Hội chợ thuộc địa tại Pháp. Sau này ca ra bộ phát triển như một trào lưu tại Nam bộ. Tiết mục được trình diễn rất thô sơ trên một bộ ván gõ, diễn viên vừa ca, vừa diễn với điệu bộ, động tác minh họa. Ca ra bộ chính là gạch nối giữa hình thái âm nhạc và hình thái sân khấu. Sau này trở thành Hát cải lương. Sau đó nhờ những soạn giả như ông Trương Duy Toản, Mộc quán Nguyền Trọng Quyền,.. viết lại từng mảng các chuyện tích xưa để diễn ca ra bộ, với hình thức đối ca, liên ca rồi kết hợp lại thành những vở tuông Cải lương đâu tiên như Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều... Cải lương hình thành và phát triển rất mau nhờ những đóng góp của những bậc tài danh như Năm Phỉ, Năm Châu, Trần Hữu Trang, Tư Chơi, Năm Nở, Phùng Há... Bước đầu hình thành, Cải lương giống như tên gọi cùng chịu ảnh hưởng đủ thứ nghệ thuật đầu Ngô mình Sơ. Tình trạng hỗn độn trong trang phục, hay phong cách diễn vẫn thường xảy ra; chẳng hạn diễn viên đóng Lừ Bố mang giày bốt, đóng Điêu Thuyền mặc áo dài, cột dây ngang lưng, đầu thắt bánh lái, cũng hát đủ kiểu tích Tàu, chuyện Tây. Tuy nhiên, những gì phi nghệ thuật làm mất bản sắc dân tộc dần dần bị đào thải. Nhờ các tác giả cỏ tri thức, có tài năng mà sân khâu cải lương hình thành hai dòng tuồng Tàu và tuồng Tây mà sau này các nhà nghiên cứu sân khấu khẳng định là Cải lương có hai phương pháp phương pháp hiện thực tâm lý và phương pháp biểu hiện tả ý. Trong bối cảnh văn hóa Việt Nam đầu thế kỉ, nếu nói hát bội là loại hình nghệ thuật cũ, kịch nói là loại hình nghệ thuật mới thì Cải lương lại đứng giữa cái cũ và cái mới. Tính dân tộc qua phương pháp biểu hiện tả ý và tính hiện đại qua phương pháp tả thực tâm lý. Sân khấu Cải lương vừa dân tộc vừa hiện đại là đo kết hợp một cách tài tình hai phương pháp hiện thực tâm lý và biểu hiện tả ý đó. Về đề tài kịch bản không phải chỉ lấy trong lịch sử Trung Quốc hay Việt Nam, mà còn lấy trong các tiểu thuyết hay những cốt truyện do tác giả kịch bản đặt ra về nghệ thuật biểu diễn Thật mà đẹp. Không còn ước lệ như trong hát bội, Dùng giọng thật, tự nhiên. Không có những giọng mé, giọng hầu Ban nhạc tài tử lúc hòa tâu ở phòng khách đàn hát sa-lông thường gồm có đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn độc huyền, sáo hay tiêu, mỗi thứ nhạc cụ chỉ có một. Có người hát thì thêm phách hay song lang. Khi trở thành dàn nhạc cải lương thì số lượng nhạc cụ trở thành quan trọng hơn trống ban, song lang, cặp não bạt, đồng la, đàn cò, đàn gáo, đàn kìm. đàn tam, đàn đoản, đàn tranh. Lại có thêm sáo, tiêu, kèn củn, kèn nàm. Sau này có thêm đàn độc huyền, đàn xến, ghi ta phím lõm còn gọi là lục huyên cầm, tam thập lục, vi-ô-lông, hạ uy cầm. Cây lục huyền câm hay ghi-ta phím lõm có nhiều khả năng về cung bực, âm thanh trâm bông lại có thẻ luyến láy do phím móc sâu. Từ 40 năm nay, ghi-ta phím lõm giữ vai trò chính trong dàn nhạc cải lương, và sau này đàn ghi ta phím lõm có giai điện giống ghi-ta điện. Ngoài dàn nhạc cổ, còn có thêm dàn nhạc Tây phương với piano, saxo, clarinette, trống, ghi-ta điện, và đàn synthé hay organ. Những bài, bản được nghe trong tuồng cải lương đều phát xuất từ dàn ca cổ nhạc miền Nam phần lớn, và những làn điệu trong nhạc đàn tài tử. một loại nhạc thính phòng miền Nam. Có thể phân loại một số bài bản thông dụng như Từ những điệu ca dân gian như những điệu Lý chẳng hạn từ điệu Lý ngựa ô biến thành điệu cải lương 0 Mã 18 câu nhịp đôi. Từ những bài nhạc lễ cung đình trong hát bội sau được cải biên dùng trong cải lương như Vũ Biền Xuất Đôi, Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Đối Hạ, Long Đăng, Tiểu Khúc,... Từ những sáng tác mới sau này khi có ca ra bộ, hát cải lương như Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán, Trường Tương Tư, Lun Thủy Trường, Ái Tử Kê, Vọng cổ,... Từ những điệu hát lấy từ nhạc nước ngoài nhất là từ Trung Quốc, nhạc Quảng Đông xuyên qua các bài Xang Xừ Líu, Khốc Hoàng Thiên, Liều Xuân Nương, Bản Tiều, Lạc Âm Thiều,... Đã nói đến sân khấu Cài lương, không thể nào không nói đến bản nhạc "đinh" trong các vở. Đó là bản vọng cổ. Có người cường điệu "không có bản vọng cố không thể trờ thành một đêm hát cải lương... "Lời khẳng định trên có phần hơi quá, nhưng nghĩ kỳ lại cũng không sai. Tính hấp dẫn của một đêm diễn Cải lương không thể không nói tới sức thu hút kỳ diệu của bản vọng cổ. Được biết vào năm 1918 ông Cao Văn Lầu đã sáng tác bản Dạ cô hoài lang, sau này trở thành bàn vọng cố. Dạ cổ hoài lang tiền thân của bản vọng cổ đã tạo ra một không khí mới cho nền ca nhạc cổ miền Nam. Từ đó trở đi, bất kì trong một vở Cải lươn£ nào, bản vọng cổ vẫn là bản nhạc chủ đạo, thể hiện một cách đa dạng qua tất cả tình huống, trong một vở Cải lương. Nhìn lại nghệ thuật sân khấu Cải lương, chúng ta không thể nào quên những nghệ sĩ lào thành có mặt từ đầu bộ môn nghệ thuật này, như kép Bảy Thông, đào Năm Thoàn trong gánh Cải Lương của thầy Năm Tú ở tại Mỹ Tho, như Năm Châu, Phùng Há, Năm Phỉ, Bảy Nam, Bảy Nhiêu, Ba Vân, út Trà Ôn. Những người nghệ sĩ này đã truyền nghề cho một thế hệ không kém nổi tiếng mà ngày nay không ai là không biết đến như nghệ sĩ ưu tú Kim Cương, nghệ sĩ Duy Lân, nghệ sĩ Thành Được, nghệ sĩ út Bạch Lan, nghệ sĩ Hữu Phước, nghệ sĩ nhân dân Thanh Tòng, nghệ sĩ Việt Hùng... Sau nữa còn có nghệ sĩ Hùng Cường, nghệ sĩ ưu tú Bạch Tuyết, nghệ sĩ Thanh Sang, nghệ sĩ ưu tú Ngọc Giàu, nghệ sĩ ưu tú Lệ Thuỷ, nghệ sĩ Mộng Tuyền, nghệ sĩ Đồ Quyên, nghệ sĩ Hoài Thanh... Và tiếp theo sau là thế hệ mới. Ngày nay người ta không thể quên có một Hương Lan con gái nghệ sĩ Hữu Phước, Vũ Linh, Tài Linh, Ngọc Huyền, Kim Tử Long... Bây giờ đã có Quế Trân con gái nghệ sĩ Thanh Tòng, Thi Trang, Lê Tử... trong số nghệ sĩ lão thành và trẻ tuổi không thể kể hết. Ngày nay người ta vẫn yêu mến bộ môn này bởi vì bên cạnh những sân khấu kịch nghệ, sân khấu ca nhạc trẻ, sân khấu nghệ thuật Cải lương đã luôn định hình trong lòng khán giả và còn tiếp tục đi tới trong việc bảo tồn, lưu giữ. Trong mấy năm sau này, những nghệ sĩ như Thanh Tòng, út Bạch Lan, Bạch Tuyết... có tổ chức những đêm Cải lương diễn lại trích đoạn của nhiều tuồng đã được khán giả yêu chuộng và đã thu hút rất nhiều khán giả hâm mộ Cải lương. Những chương trình truyền hình như Cánh chim không mỏi, Vầng trăng cổ nhạc được đông đảo khản giả theo dõi. Hai đài truyền hình HTV7 và HTV9 thường xuyên phát sóng nhiều vở tuồng Cải lương mới, cũ. Có dịp ra nước ngoài, người ta vẫn nghe tiếng hát của các nghệ sĩ trẻ Việt kiều hát Cải lương hoặc bà con ở hải ngoại sẵn sàng bỏ một buổi làm việc đẻ mua được tại phòng vé một chồ xem trình diễn "Cải lương" mà nghệ sĩ từ Việt Nam qua biểu diễn. Đặc biệt ở Pháp và ở Mỹ, Cải lương rất thịnh hành. Nhiều nghệ sĩ Cải lương tại hai nước đó, chẳng những diễn lại những vở tuồng xưa mà gần đây đã dàn dựng những vở mới. Như thế, Cải lương quả đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cải lương cũng đã được thay đổi qua nhiều thế hệ, chịu thử thách với thời gian, với nhiều thử nghiệm. Tuy sinh sau đẻ muộn, so với hát chèo, hát bội hát tuồng, hát cải lương trong một thời gian ngắn đã đi một bước rất dài, đi sâu vào trong lòng người dân Nam bộ nói riêng, người Việt Nam nói chung và đã trở thành một truyền thống vững chắc trong kịch nghệ Việt Nam.
Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Bài văn mẫu Thuyết minh về cải lương phải không? Nếu đúng như vậy thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm NHỮNG BÀI VĂN MẪU HAY khác tại đây => Văn Mẫu Đề bài Thuyết minh về cải lương – nghệ thuật sân khấu truyền thống của Nam Bộ, Việt Nam Bài văn mẫu Thuyết minh về cải lương – nghệ thuật sân khấu truyền thống của Nam Bộ, Việt Nam Bài văn mẫu Thuyết minh về cải lương – nghệ thuật sân khấu truyền thống của Nam Bộ, Việt Nam Nhắc đến Nam Bộ, người ta sẽ nhớ ngay đến những dòng sông dài, kênh rạch chằng chịt, những vườn cây trĩu quả, những khu chợ nổi tấp nập kẻ bán người mua, những con người Nam Bộ thực thụ. Xinh xắn, giản dị, rất giản dị trong chiếc áo bà ba nâu. Và chắc hẳn nếu ai đã từng ghé thăm nơi đây sẽ không thể nào quên được những làn điệu dân ca, Vọng cổ và đặc biệt là làn điệu cải lương – loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống của người dân Nam Bộ. Nếu miền Bắc có những làn điệu Quan họ da diết, miền Trung có những làn điệu say đắm lòng người thì ở miền Nam người ta lại rưng rưng xúc động khi nghe những câu Cải lương thấm đẫm tình người. yêu đất và người. Nói đến cải lương, không ai còn xa lạ. Cải lương là một loại hình dân ca của người dân Nam Bộ. Là loại hình sân khấu tuồng được hình thành trên cơ sở âm nhạc dân ca, dân vũ của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cải lương hiểu theo nghĩa Hán Việt có nghĩa là “sửa đổi cho hay hơn”. Chính dựa trên những nguyên lý, nền tảng từ lối hát truyền thống trước đây đã hình thành nên một làn điệu dân ca mới, một sân khấu truyền thống mới mang đậm dấu ấn của người dân Nam Bộ. Cải lương nổi tiếng, nhưng lịch sử và nguồn gốc của nó vẫn là đề tài tranh luận của nhiều học giả danh tiếng. Có người nói Cải lương bắt nguồn từ những năm đầu thế kỷ XX. , từ những năm 1916 hay 1918. Nhưng tên chính thức “cải lương” lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1920 trong đoàn hát Tân Thịnh với sự kết hợp “Cải cách hát với sự tiến bộ Truyền thuyết câu chuyện cổ tích so với văn minh “ Cứ như vậy, cải lương ra đời và phát triển mạnh mẽ vào những năm đầu của thế kỷ XX và được lưu truyền cho đến nay. Cải lương đã đi vào đời sống tinh thần của người dân Nam Bộ trong từng câu hát, từng câu hò, điệu lý. Nó đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Nam Bộ. Nghệ thuật sân khấu truyền thống – cải lương nổi tiếng là vậy, nhưng đặc điểm của cải lương là gì thì ít người hiểu hết được. Nhưng để hiểu được nghĩa của từng từ cũng như cách dùng từ, đặt giai đoạn, chủ đề thì chúng ta khó có thể nắm được hết. Trong cải lương, khởi đầu cho sự giàu có của cải lương là những vở tuồng. Vở tuồng mang hơi hướng của những câu hát Bội và sân khấu đờn ca tài tử Nam Bộ. Nhưng dần dần, từ những vở tuồng đầu tiên với bố cục từ truyện cổ tích, cải lương đã có những sân khấu độc đáo riêng với các phần mở đầu, kết thúc và diễn tiến của hành động. của bộ phim truyền hình. Chính những điều này đã kích thích sự phát triển của sân khấu cải lương ngay từ thuở sơ khai. Nếu tuồng, hát bội, tuồng, … thường được xây dựng từ những chủ đề quen thuộc như truyện cổ tích, truyền thuyết lưu truyền trong dân gian thì cải lương lại mở ra một lớp chủ đề mới với chủ đề cốt lõi. câu chuyện rộng hơn. Các chủ đề trong sân khấu Cải lương được xây dựng từ những câu chuyện đời thường quen thuộc của người dân Nam Bộ, bên cạnh những câu chuyện mang màu sắc xã hội. Đề tài để dựng một vở Cải lương không khó chút nào. Hiếm không quá cầu kỳ. Người ta có thể dùng bất cứ đề tài nào để xây dựng một câu chuyện cải lương với những ca từ đau thương, chứa đầy cảm xúc trong đó. Chúng ta có thể xem những vở Cải lương rất nổi tiếng như Kim Vân Kiều truyện, Lục Vân Tiên,… Ngoài ra, những câu chuyện làm nên vở cải lương cũng có thể là những câu chuyện nổi tiếng ở nước ngoài. Tóm lại, cải lương có thể dung nạp bất cứ nội dung nào để tạo nên một vở cải lương đặc sắc, nhưng không thể thiếu trong đó là chất riêng của người phương Nam, là hồn cốt riêng của nghệ thuật sân khấu truyền thống. thổi hồn vào đó qua từng câu chữ, từng bài hát. Sân khấu cải lương cũng như các loại hình tuồng chèo, … được coi là một loại hình sân khấu ca nhạc. Dựa trên những khuôn khổ âm nhạc sẵn có, trong mỗi vở kịch, người sáng tác đều viết lời phù hợp với từng câu chuyện diễn ra trong đó. Sân khấu Cải lương quy tụ hầu hết các loại hình dân ca Nam bộ. Vở sử dụng những ca từ phong phú của dân ca Nam Bộ, từ những câu hò, điệu lý như sáo Lý Con, Lý Giao Duyên, Lý Ngựa Ô,… được vận dụng và vận dụng vào cải lương một cách tối đa. sáng tạo và khéo léo. Có lẽ vì thế mà người ta yêu cải lương bởi sự ngẫu hứng, tinh tế, say mê, đắm say qua từng câu hát quen thuộc, từ những khâu dàn dựng chi tiết. Không chỉ độc đáo trong cách bố trí hay lựa chọn chủ đề, điều đáng ngạc nhiên là nó có thể chứa và hài hòa cả dàn nhạc cũ và mới. Nếu như với các loại hình dân ca khác, người ta chỉ có thể sử dụng các loại nhạc cụ cổ điển để tạo âm hưởng cho vở diễn thì với cải lương, có thể kết hợp hài hòa cả hai loại nhạc cụ này. Nói đến âm nhạc trong các vở cải lương, nó đóng một vai trò rất quan trọng. Nó là một công cụ giúp làm đẹp giọng nói của một diễn viên, vì vậy các diễn viên có thể sử dụng nó để trang điểm cho không chỉ giọng nói của mình mà còn thể hiện diễn biến tâm lý của nhân vật. Nét độc đáo của dàn nhạc Cải lương như đã nói ở trên là sự hòa âm phối khí của hai dàn nhạc. Chúng không chỉ không xâm lấn. Khắc phục nhau, không hề lố mà có sự giao thoa, bổ sung cho nhau, tạo nên một bản phối hoàn hảo cho loại hình cải lương này. Trong đó, dàn nhạc tuồng giữ vai trò chủ đạo trong các vở cải lương. . Nó luôn giữ được cái hồn trong từng câu hát và thêm vào đó là những nhạc cụ hiện đại cũng rất đa dạng và nhiều màu sắc. Cải lương cũng có lối diễn khác hẳn so với các loại hình đờn ca tài tử Nam Bộ. Nếu như các điệu hò, điệu lý của miền Nam chỉ quan tâm đến giọng hát chứ không quan tâm đến điệu bộ, thì cải lương lại khác. Nó không chỉ đòi hỏi người diễn viên phải có giọng hát hay, có quãng trầm, quãng rộng mà còn đòi hỏi người diễn viên phải có sự uyển chuyển trong các động tác, cử chỉ. Nhìn chung, cải lương đã mở ra một hướng đi mới trong đờn ca tài tử Nam Bộ, với lối diễn như tuồng nhưng sử dụng hình thức ca từ. Nghệ thuật cải lương được hình thành từ lâu đời nhưng trước đây chỉ được dàn dựng để phục vụ khi có nhu cầu từ các quán hát hay từ các quan chức nhà nước. Ngày nay, cải lương đã trở thành một nét văn hóa truyền thống mà dù đi đâu trên đất Nam Bộ, chúng ta cũng có thể nghe thấy tiếng hát Cải lương thân thương. Với bề dày lịch sử lâu đời, cải lương đã sớm trở thành biểu tượng văn hóa của Nam Bộ và Việt Nam. Cải lương đã tạo được tên tuổi trong lòng khán giả yêu mến bởi nhiều vở tuồng thành công. Trong số đó không thể không kể đến những vở Cải lương nổi tiếng để lại dấu ấn khó phai mờ trong lòng khán giả như vở Lan và Điệp, Tô Ánh Nguyệt Trần Hữu Trang, Kiều Nguyệt Nga Ngọc Cung, Đời và Đời. Cung. Cô Lựu Trần Hữu Trang,… cùng với những nghệ sĩ nổi tiếng đã thể hiện thành công Cải lương trên màn ảnh như nghệ sĩ Kim Cương, nghệ sĩ Út Bạch Lan, nghệ sĩ Thanh Sang, Ngọc Giàu,… Chính những nghệ sĩ Cải lương. những vở diễn và những nghệ sĩ tâm huyết đã mang đến cho khán giả không chỉ trong Nam mà cả nước cũng như nước ngoài. loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống này. Trong nửa đầu thế kỷ trước, có những thời điểm sân khấu cải lương đã trở thành một vị trí độc tôn, trên tất cả các loại hình âm nhạc khác. Ngày nay, công chúng vẫn yêu thích thể loại này, mặc dù nó không còn phổ biến. rộng rãi như trước đây. Nhưng cải lương vẫn được các thế hệ người Việt Nam, đặc biệt là người dân Nam Bộ lưu truyền và gìn giữ. Cùng với đó, những nghệ sĩ tâm huyết với Cải lương như Bạch Tuyết, Út Bạch Lan, … vẫn tổ chức những đêm nhạc Cải lương để phục vụ đông đảo công chúng yêu thích loại hình ca nhạc này. Các nghệ sĩ trẻ cũng đang chung tay hành động, bảo vệ và phát triển cải lương. Họ đã đưa cải lương ra nước ngoài phục vụ bà con Việt Nam định cư ở nước ngoài và tuyên truyền quảng bá sâu rộng hơn nữa loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống Việt Nam này. Cùng với sự phát triển của sân khấu Điện ảnh, game show truyền hình, Cải lương ngày nay không còn vị thế huy hoàng như trước. Nhưng không vì thế mà tình yêu với bộ môn này mất đi trong lòng những người yêu văn hóa. Cải lương cũng đã trải qua những thăng trầm, thử thách khắc nghiệt của lịch sử nhưng nó vẫn ở lại với người dân Nam Bộ nói riêng và người dân Việt Nam nói chung. Và nó sẽ vẫn được bảo tồn, phát huy và trường tồn cùng lịch sử Việt Nam và xứng đáng với tên gọi nghệ thuật sân khấu truyền thống Nam Bộ. Cùng xem thêm các bài văn thuyết minh – Thuyết minh về thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.– Thuyết minh về thể thơ lục bát.– Thuyết minh về mũ bảo hiểm chung toi da duoc nghe thuat cua chinh phu Nam Viet Nam, chung toi van chua duoc nghe thuat cua cac co quan chuc nang o Viet Nam. Bạn thấy bài viết Bài văn mẫu Thuyết minh về cải lương có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu không hãy comment góp ý thêm về Bài văn mẫu Thuyết minh về cải lương bên dưới để có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website
Người Kinh Bắc tự hào khi nhắc đến dân ca quan họ. Người xứ Huế lại tự hào về những câu Nam ai, Nam bình, những điệu hò mái nhì, mái đẩy man mác. Người dân Nam Bộ cũng hãnh diện khi nói về những câu cải lương mùi mẫn làm say lòng người. Cải lương là một làn điệu đặc trưng của mảnh đất phương Nam. Hay nói cách khác Miền Nam của xứ Việt Nam là nơi phát xuất cải lương. Con người miền Nam có một đời sống nhàn hạ, sung túc. Ruộng cò bay thẳng cánh. Cá đầy sông, rạch. Không lo đói nhờ đất đai phì nhiêu, rau và lúa gạo đầy đồng. Người miền Nam mang dòng máu của những dân đến sinh sống trên đất Nam kỳ đầu tiên. Dân ca miền Nam phối hợp những đặc trưng của dân ca miền Bắc miền Trung, thêm vào đó những sắc thái cổ truyền của nhạc Cao Miên, Trung Hoa, Chàm. Do đó, dân ca rất phong phú về giai điệu cũng như tiết tấu qua những điệu lý, điệu hò, nói thơ. Cải lương đầu thế kỷ XX, làm phong phú thêm cho những làn điệu dân ca đất phương Nam. Cùng với sự ra đời của tiểu thuyết, kịch nói, thơ mới... sự ra đời. Cải lương được xem như là sản phẩm mang tính tất yếu của lịch sử. Nó hình thành từ sự tiếp xúc giữa nền văn hóa nông nghiệp lúa nước và nền văn hóa công nghiệp phương Tây. Nếu như kịch nói có lịch sử lâu đời và nguồn gốc từ phương Tây, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa, của quan điếm thẩm mỹ phương Tây thì sự ra đời của Cải lương có nguồn gốc từ nghệ thuật truyền thống dân tộc và sự du nhập lối biên kịch châu Âu. Yếu tố đầu tiên mang tính cội nguồn của nghệ thuật cải lương là âm nhạc tài tử Nam Bộ. Thời ấy, Tuồng Hát bội không còn giữ vị trí độc tôn trong thường thức nghệ thuật trình diễn của đồng bào miền Nam, nên từ các vùng nông thôn bắt đầu phong trào đờn ca tài tử phục vụ trong các cuộc vui như lễ cưới, lễ hỏi, đám tiệc, đám giỗ... Theo một số nhà nghiên cứu, tiền thân của Cải Lương là nhạc tài tử biến thành "ca ra bộ" tại nhà Ổng Cai tổng Tống Hữu Định Ông Phó 12 tại Vĩnh Long năm 1917. Khi ca bài Tứ đại oán với tích Bùi Kiệm thi rớt trở về, Cô Ba Định, vai Nguyệt Nga, ông giáo Diệp Minh Ký đóng vai Bùi Kiệm, ông Giáo Du, vai Bùi Ông, vừa ca vừa ra bộ. Và từ đó đã sinh ra loại "Ca ra bộ". Sự khởi đầu của hình thức này được đánh dấu tại cuộc trình diễn của nhóm ca nhạc tài tử trên sân khấu hộp trong đó có cô Ba Đắc tại Hội chợ thuộc địa tại Pháp. Sau này ca ra bộ phát triển như một trào lưu tại Nam bộ. Tiết mục được trình diễn rất thô sơ trên một bộ ván gỗ, diễn viên vừa ca, vừa diễn với điệu bộ, động tác minh họa. Ca ra bộ chính là gạch nối giữa hình thái âm nhạc và hình thái sân khâu. Và sau này trở thành Hát cải lương. Sau đó nhờ những soạn giả như ông Trương Duy Toàn, Mộc quán Nguyễn Trọng Quyền... viết lại từng mảng các chuyện tích xưa để diễn ca ra bộ, với hình thức đối ca, liên ca rồi kết hợp lại thành những vở tuồng Cải lương đầu tiên như Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều... Cải lương hình thành và phát triển rất mau nhờ những đóng góp của những bậc tài danh như Năm Phi, Năm Châu, Trần Hữu Trang, Tư Chơi, Năm Nờ, Phùng Há... Bước đầu hình thành, Cải lương giống như tên gọi cũng chịu ảnh hưởng đủ thứ nghệ thuật đầu Ngô mình Sở. Tình trạng hỗn độn trong trang phục, hay phong cách diễn vẫn thường xảy ra; chẳng hạn diễn viên đóng Lã Bố mang giày bốt, đóng Điêu Thuyền mặc áo dài, cột dây ngang lưng, đầu thắt bánh lái, cũng hát đủ kiểu tích Tàu, chuyện Tây. Tuy nhiên, những gì phi nghệ thuật làm mất bản sắc dân gian dần bị đào thải. Nhờ các tác giả có tri thức, có tài năng mà sân khâu cải lương hình thành hai dòng tuồng Tàu và tuồng Tây mà sau này các nhà nghiên cứu sân khấu khẳng định là Cải lương có hai phương pháp phương pháp hiện thực tâm lý và phương pháp biểu hiện tả ý. Trong bối cảnh văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ, nếu nói hát bội là loại hình nghệ thuật cũ, kịch nói là loại nghệ thuật mới thì Cải lương lại đứng giữa cái cũ và cái mới. Tính dân tộc của phương pháp biểu hiện tả ý và tính hiện đại qua phương pháp tả thực tâm lí sân khấu Cải lương vừa dân tộc vừa hiện đại là do kết hợp một cách tài tình phương pháp hiện thực tâm lý và biểu hiện tả ý đó. Về đề tài kịch bản không phải chỉ lấy trong lịch sử Trung Quốc hay Việt Nam mà còn lấy trong các tiểu thuyết hay những cốt truyện do tác giả kịch bản đặt ra. Về nghệ thuật biểu diễn Thật mà đẹp. Không còn ước lệ như trong hát bội. Dùng giọng thật, tự nhiên. Không có những giọng mé, giọng hầu.. nhạc tài tử lúc hòa tấu ở phòng khách đàn hát sa-lông thường gồm có đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn độc huyền, sáo hay tiêu, mỗi thứ nhạc cụ chi có một. Có người hát thì thêm phách hay song lang. Khi trở thành dàn nhạc cải thì số lượng nhạc cụ trở thành quan trọng hơn trống ban, song lang, cặp não bạt, đổng la, đàn cò, đàn gáo, đàn kìm, đàn tam, đàn đoản, đàn tranh. Lại thêm sáo, tiêu, kèn cùn, kèn nàm. Sau này có thêm đàn độc huyền, đàn xến, ghi ta phím lõm còn gọi là lục huyền cầm, tam thập lục, vi-ô-lông, hạ uy cấm. Cây lục huyền cầm hay ghi-ta phím lõm có nhiều khả năng về cung bậc, âm thanh trầm bổng lại có thể luyến láy do phím móc sâu. Từ 40 năm nay, ghi-ta phím lõm giữ vai trò chính trong dàn nhạc cải lương, và sau này đàn ghi ta phím lõm có gắn điện giống ghi-ta điện. Ngoài dàn nhạc cổ, còn có thêm dàn nhạc Tây phương với piano, saxo, clarinette, trống, ghi-ta điện, và đàn synthé hay organ. Những bài bản được nghe trong tuồng cải lương đều phát xuất từ dân ca nhạc miền Nam phần lớn, và những làn điệu trong nhạc đàn tài từ, một loại nhạc thính phòng miền Nam. Có thể phân loại một số bài bản thông dụng. Từ những điệu ca dân gian như những điệu Lý chẳng hạn từ điệu Lý ngựa ô biến thành điệu cải lương Ô Mã 18 câu nhịp đôi. Từ những bài nhạc lễ đình trong hát bội sau được cải biên dùng trong cải lương như Vũ Biển Đôi, Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đào, Ngũ Đôì Thượng, Ngũ Đối Hạ, Đăng, Tiếu Khúc, Từ những sáng tác mới sau này khi có ca ra bộ, hát lương như Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán, Trường Tương Tư, Lưu Trường, Ái Tử Kê, Vọng Cổ, vv... Từ những điệu hát lấy từ nhạc nước người nhất là từ Trung Quốc, nhạc Quảng Đông xuyên qua các bài Xang Xù Lâu Khốc Hoàng Thiên, Liễu Xuân Nương, Bán Tiểu, Lạc m Thiều, Đã nói đến sân khấu Cải lương, không thể nào không nói đến bản "đinh" trong các vở. Đó là bản vọng cổ. Có người cường điệu "không có bản vọng cổ không thể trở thành một đêm hát cải lương... "Lời khẳng định trên có phần hơi quá, nhưng nghĩ kỹ lại cũng không sai. Tính hấp dẫn của một đêm diễn Cải lương không thể không nói tới sức thu hút kỳ diệu của bản vọng cổ. Được biết vào năm 1918 ông Cao Văn Lầu đã sáng tác bản Dạ Cố Hoài La sau này trở thành bản vọng cổ. Dạ Cổ Hoài Lang tiền thân của bản vọng cổ để tạo ra một không khí mới cho nền ca nhạc cổ miền Nam. Từ đó trở đi, bất kỳ trong một vở Cái lương nào, bản vọng cổ vẫn là bản nhạc chủ đạo, thể một cách đa dạng qua tất cả tình huống, trong một vở Cải lương. Nhìn lại nghệ thuật sân khấu Cải lương, chúng ta không thể nào quên những nghệ sĩ lão thành có mặt từ đầu bộ môn nghệ thuật này, như kép Bảy Thông, đào Năm Thoàn trong gánh Cải Lương của Thầy Năm Tú ở tại Mỹ Thuận như Năm Châu, Phùng Há, Năm Phi, Báy Nam, Bảy Nhiêu, Ba Vân, Út Trì Ôn... Những người nghệ sĩ này đã truyền nghề cho một thế hệ không kém nổi tiếng mà ngày nay không ai là không biết đến như nghệ sĩ ưu tú Kim Cương nghệ sĩ Duy Lân, nghệ sĩ Thành Được nghệ sĩ Út Bạch Lan, nghệ sĩ Hùng Phước, nghệ sĩ nhân dân Thanh Tòng, nghệ sĩ Việt Hùng... Sau nữa còn nghệ sĩ Hùng Cường, nghệ sĩ ưu tú Bạch Tuyết, nghệ sĩ Thanh Sang, nghe ưu tú Ngọc Giàu, nghệ sĩ ưu tú Lệ Thuý, nghệ sĩ Mộng Tuyển, nghệ sĩ Đỗ Quyên, nghệ sĩ Hoài Thanh... Và tiếp theo sau là thế hệ mới ngày nay người không thế quên có một Hương Lan con gái nghệ sĩ Hữu Phước, Vũ Linh, Tài Linh, Ngọc Huyền, Kim Tử Long... Bây giờ đã có Quê Trân con gái nghệ sĩ Thanh Tòng, Thi Trang, Lê Tứ... trong số nghệ sĩ lão thành và trẻ tuổi khỏi thế kể hết. Ngày nay người ta vẫn yêu mến bộ môn này bởi vì bên cạnh những sân khấu kịch nghệ, sân khấu ca nhạc trẻ, sân khấu nghệ thuật. Cải lương đã luôn hình trong lòng khán giả và còn tiếp tục đi tới trong việc bảo tổn, lưu giữ. Trong mấy năm sau này, những nghệ sĩ như Thanh Tòng, Út Bạch Lan, Bạch Tuyết... có tổ chức những đêm Cải lương diễn lại trích đoạn của nhiều tuồng đã được khán giả yêu chuộng và đã thu hút rất nhiều khán giả hâm mộ Cải lương. Những chương trình truyền hình như Cánh chim không mỏi, Vầng trăng Cổ nhạc được đông đảo khán giả theo dõi. Hai đài truyền hình HTV7 và HTV9 thường xuyên phát sóng nhiều vở tuồng Cải lương mới, cũ. Có dịp ra ngoài, người ta vẫn nghe tiếng hát của các nghệ sĩ trẻ Việt kiều hát Cải lương hoặc bà con ở hải ngoại sẵn sàng bỏ một buổi làm việc để mua cho được ở phòng vé một chỗ xem trình diễn "Cải lương" mà nghệ sĩ từ Việt Nam qua diễn. Đặc biệt bên Pháp và bên Mỹ, Cải lương rất thịnh hành. Nhiều nghệ sĩ cải lương tại hai nước đó, chẳng những diễn lại những vờ tuồng xưa mà gần đã dàn dựng những vở mới. Như thế "Cải lương" quả đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, cải lương cũng đã được thay đổi qua nhiều thế hệ, chịu thử thách với thời với nhiều thử nghiệm. Tuy sinh sau đẻ muộn, so với hát chèo, hát bội hát tuồng, hát cải lương trong một thời gian ngắn đã đi một bước rất dài, đi vào trong lòng người dân Nam bộ nói riêng, người Việt Nam nói chung và trở thành một truyền thông vững chắc trong kịch nghệ Việt Nam.
Thuyết minh về cải lương gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo chi tiết và tải về tại đây nhé. Thuyết minh về cải lương Người Kinh Bắc tự hào khi nhắc đến dân ca quan họ. Người xứ Huế lại tự hào về những câu Nam ai, Nam bình, những điệu hò mái nhì, mái đẩy man mác. Người dân Nam Bộ cũng hãnh diện khi nói về những câu cải lương mùi mẫn làm say lòng người. Cải lương là một làn điệu đặc trưng của mảnh đất phương Nam. Hay nói cách khác Miền Nam của xứ Việt Nam là nơi phát xuất cải lương. Con người miền Nam có một đời sống nhàn hạ, sung túc. Ruộng cò bay thẳng cánh. Cá đầy sông, rạch. Không lo đói nhờ đất đai phì nhiêu, rau và lúa gạo đầy đồng. Người miền Nam mang dòng máu của những dân đến sinh sống trên đất Nam kỳ đầu tiên. Dân ca miền Nam phối hợp những đặc trưng của dân ca miền Bắc miền Trung, thêm vào đó những sắc thái cổ truyền của nhạc Cao Miên, Trung Hoa, Chàm. Do đó, dân ca rất phong phú về giai điệu cũng như tiết tấu qua những điệu lý, điệu hò, nói thơ. Bạn đang xem Thuyết minh về cải lươngThuyết minh về cải lương Cải lương đầu thế kỷ XX, làm phong phú thêm cho những làn điệu dân ca đất phương Nam. Cùng với sự ra đời của tiểu thuyết, kịch nói, thơ mới… sự ra đời. Cải lương được xem như là sản phẩm mang tính tất yếu của lịch sử. Nó hình thành từ sự tiếp xúc giữa nền văn hóa nông nghiệp lúa nước và nền văn hóa công nghiệp phương Tây. Nếu như kịch nói có lịch sử lâu đời và nguồn gốc từ phương Tây, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa, của quan điếm thẩm mỹ phương Tây thì sự ra đời của Cải lương có nguồn gốc từ nghệ thuật truyền thống dân tộc và sự du nhập lối biên kịch châu Âu. Yếu tố đầu tiên mang tính cội nguồn của nghệ thuật cải lương là âm nhạc tài tử Nam Bộ. Thời ấy, Tuồng Hát bội không còn giữ vị trí độc tôn trong thường thức nghệ thuật trình diễn của đồng bào miền Nam, nên từ các vùng nông thôn bắt đầu phong trào đờn ca tài tử phục vụ trong các cuộc vui như lễ cưới, lễ hỏi, đám tiệc, đám giỗ… Theo một số nhà nghiên cứu, tiền thân của Cải Lương là nhạc tài tử biến thành “ca ra bộ” tại nhà Ổng Cai tổng Tống Hữu Định Ông Phó 12 tại Vĩnh Long năm 1917. Khi ca bài Tứ đại oán với tích Bùi Kiệm thi rớt trở về, Cô Ba Định, vai Nguyệt Nga, ông giáo Diệp Minh Ký đóng vai Bùi Kiệm, ông Giáo Du, vai Bùi Ông, vừa ca vừa ra bộ. Và từ đó đã sinh ra loại “Ca ra bộ”. Sự khởi đầu của hình thức này được đánh dấu tại cuộc trình diễn của nhóm ca nhạc tài tử trên sân khấu hộp trong đó có cô Ba Đắc tại Hội chợ thuộc địa tại Pháp. Sau này ca ra bộ phát triển như một trào lưu tại Nam bộ. Tiết mục được trình diễn rất thô sơ trên một bộ ván gỗ, diễn viên vừa ca, vừa diễn với điệu bộ, động tác minh họa. Ca ra bộ chính là gạch nối giữa hình thái âm nhạc và hình thái sân khâu. Và sau này trở thành Hát cải lương. Sau đó nhờ những soạn giả như ông Trương Duy Toàn, Mộc quán Nguyễn Trọng Quyền… viết lại từng mảng các chuyện tích xưa để diễn ca ra bộ, với hình thức đối ca, liên ca rồi kết hợp lại thành những vở tuồng Cải lương đầu tiên như Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều… Cải lương hình thành và phát triển rất mau nhờ những đóng góp của những bậc tài danh như Năm Phi, Năm Châu, Trần Hữu Trang, Tư Chơi, Năm Nờ, Phùng Há… Bước đầu hình thành, Cải lương giống như tên gọi cũng chịu ảnh hưởng đủ thứ nghệ thuật đầu Ngô mình Sở. Tình trạng hỗn độn trong trang phục, hay phong cách diễn vẫn thường xảy ra; chẳng hạn diễn viên đóng Lã Bố mang giày bốt, đóng Điêu Thuyền mặc áo dài, cột dây ngang lưng, đầu thắt bánh lái, cũng hát đủ kiểu tích Tàu, chuyện Tây. Tuy nhiên, những gì phi nghệ thuật làm mất bản sắc dân gian dần bị đào thải. Nhờ các tác giả có tri thức, có tài năng mà sân khâu cải lương hình thành hai dòng tuồng Tàu và tuồng Tây mà sau này các nhà nghiên cứu sân khấu khẳng định là Cải lương có hai phương pháp phương pháp hiện thực tâm lý và phương pháp biểu hiện tả ý. Trong bối cảnh văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ, nếu nói hát bội là loại hình nghệ thuật cũ, kịch nói là loại nghệ thuật mới thì Cải lương lại đứng giữa cái cũ và cái mới. Tính dân tộc của phương pháp biểu hiện tả ý và tính hiện đại qua phương pháp tả thực tâm lí sân khấu Cải lương vừa dân tộc vừa hiện đại là do kết hợp một cách tài tình phương pháp hiện thực tâm lý và biểu hiện tả ý đó. Về đề tài kịch bản không phải chỉ lấy trong lịch sử Trung Quốc hay Việt Nam mà còn lấy trong các tiểu thuyết hay những cốt truyện do tác giả kịch bản đặt ra. Về nghệ thuật biểu diễn Thật mà đẹp. Không còn ước lệ như trong hát bội. Dùng giọng thật, tự nhiên. Không có những giọng mé, giọng hầu.. nhạc tài tử lúc hòa tấu ở phòng khách đàn hát sa-lông thường gồm có đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn độc huyền, sáo hay tiêu, mỗi thứ nhạc cụ chi có một. Có người hát thì thêm phách hay song lang. Khi trở thành dàn nhạc cải thì số lượng nhạc cụ trở thành quan trọng hơn trống ban, song lang, cặp não bạt, đổng la, đàn cò, đàn gáo, đàn kìm, đàn tam, đàn đoản, đàn tranh. Lại thêm sáo, tiêu, kèn cùn, kèn nàm. Sau này có thêm đàn độc huyền, đàn xến, ghi ta phím lõm còn gọi là lục huyền cầm, tam thập lục, vi-ô-lông, hạ uy cấm. Cây lục huyền cầm hay ghi-ta phím lõm có nhiều khả năng về cung bậc, âm thanh trầm bổng lại có thể luyến láy do phím móc sâu. Từ 40 năm nay, ghi-ta phím lõm giữ vai trò chính trong dàn nhạc cải lương, và sau này đàn ghi ta phím lõm có gắn điện giống ghi-ta điện. Ngoài dàn nhạc cổ, còn có thêm dàn nhạc Tây phương với piano, saxo, clarinette, trống, ghi-ta điện, và đàn synthé hay organ. Những bài bản được nghe trong tuồng cải lương đều phát xuất từ dân ca nhạc miền Nam phần lớn, và những làn điệu trong nhạc đàn tài từ, một loại nhạc thính phòng miền Nam. Có thể phân loại một số bài bản thông dụng. Từ những điệu ca dân gian như những điệu Lý chẳng hạn từ điệu Lý ngựa ô biến thành điệu cải lương Ô Mã 18 câu nhịp đôi. Từ những bài nhạc lễ đình trong hát bội sau được cải biên dùng trong cải lương như Vũ Biển Đôi, Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đào, Ngũ Đôì Thượng, Ngũ Đối Hạ, Đăng, Tiếu Khúc, Từ những sáng tác mới sau này khi có ca ra bộ, hát lương như Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán, Trường Tương Tư, Lưu Trường, Ái Tử Kê, Vọng Cổ, vv… Từ những điệu hát lấy từ nhạc nước người nhất là từ Trung Quốc, nhạc Quảng Đông xuyên qua các bài Xang Xù Lâu Khốc Hoàng Thiên, Liễu Xuân Nương, Bán Tiểu, Lạc m Thiều, Đã nói đến sân khấu Cải lương, không thể nào không nói đến bản “đinh” trong các vở. Đó là bản vọng cổ. Có người cường điệu “không có bản vọng cổ không thể trở thành một đêm hát cải lương… “Lời khẳng định trên có phần hơi quá, nhưng nghĩ kỹ lại cũng không sai. Tính hấp dẫn của một đêm diễn Cải lương không thể không nói tới sức thu hút kỳ diệu của bản vọng cổ. Được biết vào năm 1918 ông Cao Văn Lầu đã sáng tác bản Dạ Cố Hoài La sau này trở thành bản vọng cổ. Dạ Cổ Hoài Lang tiền thân của bản vọng cổ để tạo ra một không khí mới cho nền ca nhạc cổ miền Nam. Từ đó trở đi, bất kỳ trong một vở Cái lương nào, bản vọng cổ vẫn là bản nhạc chủ đạo, thể một cách đa dạng qua tất cả tình huống, trong một vở Cải lương. Nhìn lại nghệ thuật sân khấu Cải lương, chúng ta không thể nào quên những nghệ sĩ lão thành có mặt từ đầu bộ môn nghệ thuật này, như kép Bảy Thông, đào Năm Thoàn trong gánh Cải Lương của Thầy Năm Tú ở tại Mỹ Thuận như Năm Châu, Phùng Há, Năm Phi, Báy Nam, Bảy Nhiêu, Ba Vân, Út Trì Ôn… Những người nghệ sĩ này đã truyền nghề cho một thế hệ không kém nổi tiếng mà ngày nay không ai là không biết đến như nghệ sĩ ưu tú Kim Cương nghệ sĩ Duy Lân, nghệ sĩ Thành Được nghệ sĩ Út Bạch Lan, nghệ sĩ Hùng Phước, nghệ sĩ nhân dân Thanh Tòng, nghệ sĩ Việt Hùng… Sau nữa còn nghệ sĩ Hùng Cường, nghệ sĩ ưu tú Bạch Tuyết, nghệ sĩ Thanh Sang, nghe ưu tú Ngọc Giàu, nghệ sĩ ưu tú Lệ Thuý, nghệ sĩ Mộng Tuyển, nghệ sĩ Đỗ Quyên, nghệ sĩ Hoài Thanh… Và tiếp theo sau là thế hệ mới ngày nay người không thế quên có một Hương Lan con gái nghệ sĩ Hữu Phước, Vũ Linh, Tài Linh, Ngọc Huyền, Kim Tử Long… Bây giờ đã có Quê Trân con gái nghệ sĩ Thanh Tòng, Thi Trang, Lê Tứ… trong số nghệ sĩ lão thành và trẻ tuổi khỏi thế kể hết. Ngày nay người ta vẫn yêu mến bộ môn này bởi vì bên cạnh những sân khấu kịch nghệ, sân khấu ca nhạc trẻ, sân khấu nghệ thuật. Cải lương đã luôn hình trong lòng khán giả và còn tiếp tục đi tới trong việc bảo tổn, lưu giữ. Trong mấy năm sau này, những nghệ sĩ như Thanh Tòng, Út Bạch Lan, Bạch Tuyết… có tổ chức những đêm Cải lương diễn lại trích đoạn của nhiều tuồng đã được khán giả yêu chuộng và đã thu hút rất nhiều khán giả hâm mộ Cải lương. Những chương trình truyền hình như Cánh chim không mỏi, Vầng trăng Cổ nhạc được đông đảo khán giả theo dõi. Hai đài truyền hình HTV7 và HTV9 thường xuyên phát sóng nhiều vở tuồng Cải lương mới, cũ. Có dịp ra ngoài, người ta vẫn nghe tiếng hát của các nghệ sĩ trẻ Việt kiều hát Cải lương hoặc bà con ở hải ngoại sẵn sàng bỏ một buổi làm việc để mua cho được ở phòng vé một chỗ xem trình diễn “Cải lương” mà nghệ sĩ từ Việt Nam qua diễn. Đặc biệt bên Pháp và bên Mỹ, Cải lương rất thịnh hành. Nhiều nghệ sĩ cải lương tại hai nước đó, chẳng những diễn lại những vờ tuồng xưa mà gần đã dàn dựng những vở mới. Như thế “Cải lương” quả đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, cải lương cũng đã được thay đổi qua nhiều thế hệ, chịu thử thách với thời với nhiều thử nghiệm. Tuy sinh sau đẻ muộn, so với hát chèo, hát bội hát tuồng, hát cải lương trong một thời gian ngắn đã đi một bước rất dài, đi vào trong lòng người dân Nam bộ nói riêng, người Việt Nam nói chung và trở thành một truyền thông vững chắc trong kịch nghệ Việt Nam. Thuyết minh về cải lương vừa được THCS Thành gửi tới bạn đọc. Như các bạn đã biết Cải lương là một làn điệu đặc trưng của mảnh đất phương Nam. Cải lương được xem như là sản phẩm mang tính tất yếu của lịch sử. Nó hình thành từ sự tiếp xúc giữa nền văn hóa nông nghiệp lúa nước và nền văn hóa công nghiệp phương Tây. Cải lương mang tính cội nguồn là âm nhạc tài tử Nam Bộ. Về đề tài kịch bản không phải chỉ lấy trong lịch sử Trung Quốc hay Việt Nam mà còn lấy trong các tiểu thuyết hay những cốt truyện do tác giả kịch bản đặt ra. Về nghệ thuật biểu diễn Thật mà đẹp. Không còn ước lệ như trong hát bội. Dùng giọng thật, tự nhiên. Nhạc cụ thì phong phú như có đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn độc huyền, sáo hay tiêu, mỗi thứ nhạc cụ chỉ có một. Những bài bản được nghe trong tuồng cải lương đều phát xuất từ dân ca nhạc miền Nam phần lớn, và những làn điệu trong nhạc đàn tài từ, một loại nhạc thính phòng miền Nam. Ngày nay người ta vẫn yêu mến bộ môn này bởi vì bên cạnh những sân khấu kịch nghệ, sân khấu ca nhạc trẻ, sân khấu nghệ thuật. Cải lương đã luôn hình trong lòng khán giả và còn tiếp tục đi tới trong việc bảo tổn, lưu giữ. Cải lương đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, cải lương cũng đã được thay đổi qua nhiều thế hệ, chịu thử thách với thời với nhiều thử nghiệm. Mong rằng qua bài viết này bạn đọc có thêm tài liệu để học tập nhé. Trên đây THCS Thành Công hướng dẫn các bạn học tốt bài Thuyết minh về cải lương. Ngoài ra các bạn có thể soạn bài Ngữ văn 10 được THCS Thành Công sưu tầm, chọn lọc để học tốt môn Ngữ văn 10. Bài tiếp theo Thuyết minh về làn điệu chèo Thuyết minh về cải lương Thuyết minh về cải lương gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo chi tiết và tải về tại đây nhé. Thuyết minh về cải lương Người Kinh Bắc tự hào khi nhắc đến dân ca quan họ. Người xứ Huế lại tự hào về những câu Nam ai, Nam bình, những điệu hò mái nhì, mái đẩy man mác. Người dân Nam Bộ cũng hãnh diện khi nói về những câu cải lương mùi mẫn làm say lòng người. Cải lương là một làn điệu đặc trưng của mảnh đất phương Nam. Hay nói cách khác Miền Nam của xứ Việt Nam là nơi phát xuất cải lương. Con người miền Nam có một đời sống nhàn hạ, sung túc. Ruộng cò bay thẳng cánh. Cá đầy sông, rạch. Không lo đói nhờ đất đai phì nhiêu, rau và lúa gạo đầy đồng. Người miền Nam mang dòng máu của những dân đến sinh sống trên đất Nam kỳ đầu tiên. Dân ca miền Nam phối hợp những đặc trưng của dân ca miền Bắc miền Trung, thêm vào đó những sắc thái cổ truyền của nhạc Cao Miên, Trung Hoa, Chàm. Do đó, dân ca rất phong phú về giai điệu cũng như tiết tấu qua những điệu lý, điệu hò, nói thơ. Cải lương đầu thế kỷ XX, làm phong phú thêm cho những làn điệu dân ca đất phương Nam. Cùng với sự ra đời của tiểu thuyết, kịch nói, thơ mới… sự ra đời. Cải lương được xem như là sản phẩm mang tính tất yếu của lịch sử. Nó hình thành từ sự tiếp xúc giữa nền văn hóa nông nghiệp lúa nước và nền văn hóa công nghiệp phương Tây. Nếu như kịch nói có lịch sử lâu đời và nguồn gốc từ phương Tây, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa, của quan điếm thẩm mỹ phương Tây thì sự ra đời của Cải lương có nguồn gốc từ nghệ thuật truyền thống dân tộc và sự du nhập lối biên kịch châu Âu. Yếu tố đầu tiên mang tính cội nguồn của nghệ thuật cải lương là âm nhạc tài tử Nam Bộ. Thời ấy, Tuồng Hát bội không còn giữ vị trí độc tôn trong thường thức nghệ thuật trình diễn của đồng bào miền Nam, nên từ các vùng nông thôn bắt đầu phong trào đờn ca tài tử phục vụ trong các cuộc vui như lễ cưới, lễ hỏi, đám tiệc, đám giỗ… Theo một số nhà nghiên cứu, tiền thân của Cải Lương là nhạc tài tử biến thành “ca ra bộ” tại nhà Ổng Cai tổng Tống Hữu Định Ông Phó 12 tại Vĩnh Long năm 1917. Khi ca bài Tứ đại oán với tích Bùi Kiệm thi rớt trở về, Cô Ba Định, vai Nguyệt Nga, ông giáo Diệp Minh Ký đóng vai Bùi Kiệm, ông Giáo Du, vai Bùi Ông, vừa ca vừa ra bộ. Và từ đó đã sinh ra loại “Ca ra bộ”. Sự khởi đầu của hình thức này được đánh dấu tại cuộc trình diễn của nhóm ca nhạc tài tử trên sân khấu hộp trong đó có cô Ba Đắc tại Hội chợ thuộc địa tại Pháp. Sau này ca ra bộ phát triển như một trào lưu tại Nam bộ. Tiết mục được trình diễn rất thô sơ trên một bộ ván gỗ, diễn viên vừa ca, vừa diễn với điệu bộ, động tác minh họa. Ca ra bộ chính là gạch nối giữa hình thái âm nhạc và hình thái sân khâu. Và sau này trở thành Hát cải lương. Sau đó nhờ những soạn giả như ông Trương Duy Toàn, Mộc quán Nguyễn Trọng Quyền… viết lại từng mảng các chuyện tích xưa để diễn ca ra bộ, với hình thức đối ca, liên ca rồi kết hợp lại thành những vở tuồng Cải lương đầu tiên như Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều… Cải lương hình thành và phát triển rất mau nhờ những đóng góp của những bậc tài danh như Năm Phi, Năm Châu, Trần Hữu Trang, Tư Chơi, Năm Nờ, Phùng Há… Bước đầu hình thành, Cải lương giống như tên gọi cũng chịu ảnh hưởng đủ thứ nghệ thuật đầu Ngô mình Sở. Tình trạng hỗn độn trong trang phục, hay phong cách diễn vẫn thường xảy ra; chẳng hạn diễn viên đóng Lã Bố mang giày bốt, đóng Điêu Thuyền mặc áo dài, cột dây ngang lưng, đầu thắt bánh lái, cũng hát đủ kiểu tích Tàu, chuyện Tây. Tuy nhiên, những gì phi nghệ thuật làm mất bản sắc dân gian dần bị đào thải. Nhờ các tác giả có tri thức, có tài năng mà sân khâu cải lương hình thành hai dòng tuồng Tàu và tuồng Tây mà sau này các nhà nghiên cứu sân khấu khẳng định là Cải lương có hai phương pháp phương pháp hiện thực tâm lý và phương pháp biểu hiện tả ý. Trong bối cảnh văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ, nếu nói hát bội là loại hình nghệ thuật cũ, kịch nói là loại nghệ thuật mới thì Cải lương lại đứng giữa cái cũ và cái mới. Tính dân tộc của phương pháp biểu hiện tả ý và tính hiện đại qua phương pháp tả thực tâm lí sân khấu Cải lương vừa dân tộc vừa hiện đại là do kết hợp một cách tài tình phương pháp hiện thực tâm lý và biểu hiện tả ý đó. Về đề tài kịch bản không phải chỉ lấy trong lịch sử Trung Quốc hay Việt Nam mà còn lấy trong các tiểu thuyết hay những cốt truyện do tác giả kịch bản đặt ra. Về nghệ thuật biểu diễn Thật mà đẹp. Không còn ước lệ như trong hát bội. Dùng giọng thật, tự nhiên. Không có những giọng mé, giọng hầu.. nhạc tài tử lúc hòa tấu ở phòng khách đàn hát sa-lông thường gồm có đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn độc huyền, sáo hay tiêu, mỗi thứ nhạc cụ chi có một. Có người hát thì thêm phách hay song lang. Khi trở thành dàn nhạc cải thì số lượng nhạc cụ trở thành quan trọng hơn trống ban, song lang, cặp não bạt, đổng la, đàn cò, đàn gáo, đàn kìm, đàn tam, đàn đoản, đàn tranh. Lại thêm sáo, tiêu, kèn cùn, kèn nàm. Sau này có thêm đàn độc huyền, đàn xến, ghi ta phím lõm còn gọi là lục huyền cầm, tam thập lục, vi-ô-lông, hạ uy cấm. Cây lục huyền cầm hay ghi-ta phím lõm có nhiều khả năng về cung bậc, âm thanh trầm bổng lại có thể luyến láy do phím móc sâu. Từ 40 năm nay, ghi-ta phím lõm giữ vai trò chính trong dàn nhạc cải lương, và sau này đàn ghi ta phím lõm có gắn điện giống ghi-ta điện. Ngoài dàn nhạc cổ, còn có thêm dàn nhạc Tây phương với piano, saxo, clarinette, trống, ghi-ta điện, và đàn synthé hay organ. Những bài bản được nghe trong tuồng cải lương đều phát xuất từ dân ca nhạc miền Nam phần lớn, và những làn điệu trong nhạc đàn tài từ, một loại nhạc thính phòng miền Nam. Có thể phân loại một số bài bản thông dụng. Từ những điệu ca dân gian như những điệu Lý chẳng hạn từ điệu Lý ngựa ô biến thành điệu cải lương Ô Mã 18 câu nhịp đôi. Từ những bài nhạc lễ đình trong hát bội sau được cải biên dùng trong cải lương như Vũ Biển Đôi, Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đào, Ngũ Đôì Thượng, Ngũ Đối Hạ, Đăng, Tiếu Khúc, Từ những sáng tác mới sau này khi có ca ra bộ, hát lương như Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán, Trường Tương Tư, Lưu Trường, Ái Tử Kê, Vọng Cổ, vv… Từ những điệu hát lấy từ nhạc nước người nhất là từ Trung Quốc, nhạc Quảng Đông xuyên qua các bài Xang Xù Lâu Khốc Hoàng Thiên, Liễu Xuân Nương, Bán Tiểu, Lạc m Thiều, Đã nói đến sân khấu Cải lương, không thể nào không nói đến bản “đinh” trong các vở. Đó là bản vọng cổ. Có người cường điệu “không có bản vọng cổ không thể trở thành một đêm hát cải lương… “Lời khẳng định trên có phần hơi quá, nhưng nghĩ kỹ lại cũng không sai. Tính hấp dẫn của một đêm diễn Cải lương không thể không nói tới sức thu hút kỳ diệu của bản vọng cổ. Được biết vào năm 1918 ông Cao Văn Lầu đã sáng tác bản Dạ Cố Hoài La sau này trở thành bản vọng cổ. Dạ Cổ Hoài Lang tiền thân của bản vọng cổ để tạo ra một không khí mới cho nền ca nhạc cổ miền Nam. Từ đó trở đi, bất kỳ trong một vở Cái lương nào, bản vọng cổ vẫn là bản nhạc chủ đạo, thể một cách đa dạng qua tất cả tình huống, trong một vở Cải lương. Nhìn lại nghệ thuật sân khấu Cải lương, chúng ta không thể nào quên những nghệ sĩ lão thành có mặt từ đầu bộ môn nghệ thuật này, như kép Bảy Thông, đào Năm Thoàn trong gánh Cải Lương của Thầy Năm Tú ở tại Mỹ Thuận như Năm Châu, Phùng Há, Năm Phi, Báy Nam, Bảy Nhiêu, Ba Vân, Út Trì Ôn… Những người nghệ sĩ này đã truyền nghề cho một thế hệ không kém nổi tiếng mà ngày nay không ai là không biết đến như nghệ sĩ ưu tú Kim Cương nghệ sĩ Duy Lân, nghệ sĩ Thành Được nghệ sĩ Út Bạch Lan, nghệ sĩ Hùng Phước, nghệ sĩ nhân dân Thanh Tòng, nghệ sĩ Việt Hùng… Sau nữa còn nghệ sĩ Hùng Cường, nghệ sĩ ưu tú Bạch Tuyết, nghệ sĩ Thanh Sang, nghe ưu tú Ngọc Giàu, nghệ sĩ ưu tú Lệ Thuý, nghệ sĩ Mộng Tuyển, nghệ sĩ Đỗ Quyên, nghệ sĩ Hoài Thanh… Và tiếp theo sau là thế hệ mới ngày nay người không thế quên có một Hương Lan con gái nghệ sĩ Hữu Phước, Vũ Linh, Tài Linh, Ngọc Huyền, Kim Tử Long… Bây giờ đã có Quê Trân con gái nghệ sĩ Thanh Tòng, Thi Trang, Lê Tứ… trong số nghệ sĩ lão thành và trẻ tuổi khỏi thế kể hết. Ngày nay người ta vẫn yêu mến bộ môn này bởi vì bên cạnh những sân khấu kịch nghệ, sân khấu ca nhạc trẻ, sân khấu nghệ thuật. Cải lương đã luôn hình trong lòng khán giả và còn tiếp tục đi tới trong việc bảo tổn, lưu giữ. Trong mấy năm sau này, những nghệ sĩ như Thanh Tòng, Út Bạch Lan, Bạch Tuyết… có tổ chức những đêm Cải lương diễn lại trích đoạn của nhiều tuồng đã được khán giả yêu chuộng và đã thu hút rất nhiều khán giả hâm mộ Cải lương. Những chương trình truyền hình như Cánh chim không mỏi, Vầng trăng Cổ nhạc được đông đảo khán giả theo dõi. Hai đài truyền hình HTV7 và HTV9 thường xuyên phát sóng nhiều vở tuồng Cải lương mới, cũ. Có dịp ra ngoài, người ta vẫn nghe tiếng hát của các nghệ sĩ trẻ Việt kiều hát Cải lương hoặc bà con ở hải ngoại sẵn sàng bỏ một buổi làm việc để mua cho được ở phòng vé một chỗ xem trình diễn “Cải lương” mà nghệ sĩ từ Việt Nam qua diễn. Đặc biệt bên Pháp và bên Mỹ, Cải lương rất thịnh hành. Nhiều nghệ sĩ cải lương tại hai nước đó, chẳng những diễn lại những vờ tuồng xưa mà gần đã dàn dựng những vở mới. Như thế “Cải lương” quả đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, cải lương cũng đã được thay đổi qua nhiều thế hệ, chịu thử thách với thời với nhiều thử nghiệm. Tuy sinh sau đẻ muộn, so với hát chèo, hát bội hát tuồng, hát cải lương trong một thời gian ngắn đã đi một bước rất dài, đi vào trong lòng người dân Nam bộ nói riêng, người Việt Nam nói chung và trở thành một truyền thông vững chắc trong kịch nghệ Việt Nam. Thuyết minh về cải lương vừa được THCS Thành gửi tới bạn đọc. Như các bạn đã biết Cải lương là một làn điệu đặc trưng của mảnh đất phương Nam. Cải lương được xem như là sản phẩm mang tính tất yếu của lịch sử. Nó hình thành từ sự tiếp xúc giữa nền văn hóa nông nghiệp lúa nước và nền văn hóa công nghiệp phương Tây. Cải lương mang tính cội nguồn là âm nhạc tài tử Nam Bộ. Về đề tài kịch bản không phải chỉ lấy trong lịch sử Trung Quốc hay Việt Nam mà còn lấy trong các tiểu thuyết hay những cốt truyện do tác giả kịch bản đặt ra. Về nghệ thuật biểu diễn Thật mà đẹp. Không còn ước lệ như trong hát bội. Dùng giọng thật, tự nhiên. Nhạc cụ thì phong phú như có đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn độc huyền, sáo hay tiêu, mỗi thứ nhạc cụ chỉ có một. Những bài bản được nghe trong tuồng cải lương đều phát xuất từ dân ca nhạc miền Nam phần lớn, và những làn điệu trong nhạc đàn tài từ, một loại nhạc thính phòng miền Nam. Ngày nay người ta vẫn yêu mến bộ môn này bởi vì bên cạnh những sân khấu kịch nghệ, sân khấu ca nhạc trẻ, sân khấu nghệ thuật. Cải lương đã luôn hình trong lòng khán giả và còn tiếp tục đi tới trong việc bảo tổn, lưu giữ. Cải lương đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, cải lương cũng đã được thay đổi qua nhiều thế hệ, chịu thử thách với thời với nhiều thử nghiệm. Mong rằng qua bài viết này bạn đọc có thêm tài liệu để học tập nhé. Trên đây THCS Thành Công hướng dẫn các bạn học tốt bài Thuyết minh về cải lương. Ngoài ra các bạn có thể soạn bài Ngữ văn 10 được THCS Thành Công sưu tầm, chọn lọc để học tốt môn Ngữ văn 10. Bài tiếp theo Thuyết minh về làn điệu chèo Đăng bởi THCS Thành Công Chuyên mục Tài Nguyên Học Tập, Lớp 10 Mọi sao chép, nhớ để nguồn bài viết Thuyết minh về cải lươngThuyết minh về cải lương của website
9 cuốn sách hay về cải lương cho bạn người đọc nhiều thông tin bất ngờ và thú vị về bộ môn nghệ thuật đặc sắc của nước giả Viễn Châu – 120 bài Vọng cổ đặc sắcSoạn giả Viễn Châu – 120 bài Vọng cổ đặc sắc do tác giả TS. Huỳnh Công Tín biên soạn và chú giải, gồm 120 bài ca được sắp xếp hệ thống theo bốn thể loại gồm Vọng cổ lịch sử – Vọng cổ tâm lý xã hội – Tân cổ giao duyên – Vọng cổ hài. Bạn đọc sẽ có dịp ôn lại những tác phẩm quen thuộc như Ánh lửa Mê Linh; Võ Đông Sơ ; Bạch Thu Hà; Chút tình Dạ cổ hoài Lang; Lưu Bình, Dương Lễ; Tình Lan và Điệp; Tình anh bán chiếu; Bông Ô Môi; Xuân đất khách; Ai cho tôi tình yêu; Ai xuôi vạn lý; Em không buồn nữa chị ơi; Tình đẹp mùa chôm chôm; Trên đường lưu diễn; Tư Ếch đại chiến Văn Hường…Soạn giả Viễn Châu tên thật là Huỳnh Trí Bá, sinh ngày 21/10/1924 tại xã Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Xuất thân trong gia đình vọng tộc, thân phụ là Hương cả, là con thứ sáu trong gia đình, ông còn có tên là Bảy Bá theo thông lệ người miền được mệnh danh là vua của các vị vua cải lương, “là người tạo danh cho các nghệ sĩ”, bởi qua nhiều sáng tác của ông, nhiều nghệ sĩ khi thể hiện đã được cái ưa thích để đông đảo người xem chú ý hơn, ví dụ nhưNghệ sĩ Mỹ Châu với bài “Hòn vọng phu”, NSND Út trà Ôn với “Tình anh bán chiếu”, Bên cạnh đó, ông cũng sáng tác ra nhiều bài vọng cổ hài hước mà sau này được nhiều gương mặt nổi danh như nghệ sĩ Văn Hường, Hề SÔng được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú năm 1988 và Nghệ sĩ nhân dân năm 2012 để tôn vinh những đóng góp và thành tựu nghệ thuật của Ký Nghệ Sĩ Kim Cương Sống Cho Người – Sống Cho MìnhVào giữa thập niên 1950, giới mộ điệu sân khấu kịch nghệ, cải lương miền Nam bùng nổ cái tên được giới Ký giả đề tặng “Kỳ Nữ” không ai khác chính là Nghệ Sĩ Kim Cương – Cô Đào Bi đa tài của nền “ẩm thực sân khấu” lúc bấy giờ và được đón nhận hết sức nồng Kim Cương là ai?“Tôi là ai? Không phải bây giờ là một Nghệ sĩ Nhân dân được nhiều người yêu mến, ở giai đoạn cuối đời không còn đứng trên sân khấu tôi mới tự hỏi mình như vậy, mà từ ngày còn thơ bé, vừa đủ trí khôn, tôi cũng đã nhiều lần tự hỏi.”Nghệ sĩ Kim CươngTưởng chừng là đơn giản, những phải đến khi trải qua quá nửa cuộc đời, có nhọc nhằn nghiệt ngã, có hạnh phúc nở hoa, Người “Kỳ Nữ Kim Cương” mới thật sự muốn viết lại cuốn hồi ký – chút chương sử của cuộc đời mình. Để người nghệ sĩ thay giới mộ điệu, tự nói về mình, bằng mảnh ghép chân thật sách trải dài cuộc đời người được mệnh danh là “kỳ nữ” và đã vinh dự được nhà nước công nhận là Nghệ sĩ nhân dân, bắt đầu từ những tháng ngày ấu thơ, 18 ngày tuổi đã lên sân khấu trong vai con của Quan Âm Thị Kính, cho đến những ngày an nhiên bên con cháu. Chuyện đời, chuyện nghề, chuyện tình yêu lần lượt được bà trải Theo Dòng ĐờiTrôi Theo Dòng Đời là tập Hồi ký về cuộc đời của NSND Bảy Nam – thân sinh NS Kim Cương – cây đại thụ của sân khấu cải lương Nam Bộ. Gói gọn trong hơn 200 trang sách là cả cuộc đời của người phụ nữ với nhiều cái “đầu tiên” nhất được xác lập kỷ lục nhưNgười phụ nữ đầu tiên làm trưởng đoàn Nam Hưng ở tuổi 19Nữ soạn giả đầu tiên của Sài Gòn với các vở Người đàn bà Việt Nam, Phấn hậu cung, Nỗi đau lòng mẹ…Nữ nghệ sĩ Sài Gòn đầu tiên được hãng phim Intermondia Pháp mời tham gia bộ phim Mort en định“Nghệ sĩ Bảy Nam thuộc vào lớp nghệ sĩ gạo cội của sân khấu, một cây đại thụ, một thứ cổ thụ quý. Tập hồi ký của nghệ sĩ là một giá trị vàng mười”GS. Hoàng Như Mai“Cuốn hồi ký Má đã ghi lại những ngày tháng gian truân của mình khi theo nghiệp hát, con đã đọc nhiều lần, vậy mà mỗi lần đọc lại con đều rơi nước mắt. Gần bảy mươi năm của cuộc đời Má đã dành trọn cho sân khấu, thăng trầm có, danh vọng có và hoạn nạn đắng cay cũng tràn đầy.”“Cuốn hồi ký của Má không hề có lời giải thích, Mà chỉ kể lại cho hậu thế nghe về con đường Má đã đi cùng “Đạo Hát” bằng giọng rất nhẹ nhàng, nhiều khi là bỡn cợt trên chính nỗi đau của mình.”NSND Kim CươngHát Bội, Đờn Ca Tài Tử Và Cải Lương Cuối Thế Kỷ 19 Đầu Thế Kỷ 20Năm 1889 lần đầu tiên hát bội diễn ở Pháp đã gây sự tò mò thích thú từ quần chúng đến giới nghệ thuật. Sự đặc thù cuốn hút của nghệ thuận này đã khiến nhạc sĩ – nhà dân tộc nhạc học, ông Julien Tiersot đã ghi lại các nhạc cụ và âm nhạc hát bội, nhạc sĩ Claude Debussy sau khi nghe tuồng hát bội thì âm nhạc sang tác sau này của ông có sự ảnh hưởng nhạc hát bội Việt người thường mặc định hát chèo là văn hoá đặc thù của người miền Bắc, hát bội, hát tài tử và cải lương là văn hoá của người dân Nam bộ. Thực ra nhạc tài tử có nguồn gốc từ nhạc Cung đình Huế, cải lương ra đời là sự kết tinh và sang tạo từ nhiều hình thái nghệ thuật như hát bội, đờn ca tài tử, ca ra bộ, kịch nói và cả âm nhạc Tây tình yêu nghệ thuật cổ truyền, nhà nghiên cứu Nguyễn Lê Tuyên – Giảng viên của trường Đại học Quốc gia Úc và Nguyễn Đức Hiệp đã kế thừa và tiếp cận các nguồn tài liệu đáng tin cậy để có có một “công trình nghiên cứu” nho nhỏ giúp chúng ta hiểu thêm về loại hình văn hoá dân tộc đặc sắc này.“Tuy mới hình thành được gần 100 năm nhưng cải lương đã có một chỗ đứng trong lãnh vực âm nhạc cổ truyền Việt Nam”.Bước Đường Cải Lương của tác giả Nguyễn Tuấn Khanh bộc lộ dần hai chủ đề chính được nhiều người quan tâm bởi cách vào đề hấp dẫn, kết luận ngắn gọn, trình bày theo trình tự thời gian rõ ràng. Đó là đề cập đến thời điểm xuất hiện và nguồn gốc của cải lương. Với những thông tin quan trọng được tác giả nghiên cứu và minh họa rõ ràng, cuốn sách sẽ giúp bạn đọc hiểu thêm về cải lương và bài Dạ Cổ Hoài Lang mà nhiều người vẫn thuộc nằm cầu kỳ hoa mỹ trong việc sử dụng từ ngữ, không ồn ào đả kích, không mở ra những cuộc tranh luận gay gắt sôi nổi, tác giả chỉ nói những gì mình biết và mình tin là đúng, nói một cách nhẹ nhàng và thuyết phục, chính điều đó tạo nên sự hấp dẫn trong Bước đường của cải lương của Nguyễn Tuấn Khấu Cải Lương Nam BộTác giả là một người mê cải lương. Rất mê là đằng khác. Tập sách này là tình cảm của tác giả dành cho cải lương… nên đầy tâm giới thiệu về sự ra đời của sân khấu cải lương Nam Bộ, Những chặng đường của cải lương Nam Bộ; Sự xuất hiện của cải lương Miền Trung – Miền ký 50 Năm Mê Hát, Năm Mươi Năm Cải LươngHồi Ký 50 Năm Mê Hát, Năm Mươi Năm Cải Lương là cuốn sách được viết bằng tâm huyết của học giả Vương Hồng Sển với nửa thế kỷ say mê nghệ thuật cải lương Nam Bộ với tất cả tấm lòng và trái tim. Lúc trước Vương Hồng Sển là một công chức, nhưng sau ông về hưu sớm để chuyên tâm về văn nghệ. Hồi Ký 50 Năm Mê Hát của Vương Hồng Sển in lần thứ nhất vào năm sách này đặc biệt ở chỗ tác giả không nói nhiều về đời tư mà đề cập đến lịch sử cải lương Nam Bộ từ ngày sơ khai đến thời hoàng kim, cực thịnh qua cái nhìn, cách sống của một con người yêu môn nghệ thuật Câu Hỏi Về Gia Định Sài Gòn – Sân Khấu Cải Lương Ở Thành Phố Hồ Chí MinhBộ sách 100 Câu Hỏi Đáp Về Gia Định – Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh gồm ba mươi quyển. Có thể nói đây là một bộ Địa chí văn hóa Thành phố dạng sơ giản nhằm phổ cập kiến thức và cung cấp thông tin cho người đọc về truyền thống lịch sử – văn hóa và hiện trạng kinh tế – xã hội ở Thành phố Hồ Chí tổng thể ba mươi quyển, cuốn Sân Khấu Cải Lương Ở Thành Phố Hồ Chí Minh giới thiệu cho người đọc những vấn đề, sự kiện, nhân vật… nổi bật trong lịch sử phát triển của sân khấu cải lương ở thành phố mang tên Bác từ đầu thế kỷ 20 trở đi, ngoài ra cũng kết hợp giới thiệu tổng quan về hát bội – một bộ môn nghệ thuật nhiều năm qua đã thẩm thấu và tích hợp vào cải biệt, quyển sách còn hướng người đọc cùng suy nghĩ về xu thế thoái trào của cải lương hiện tại, sự thoái trào mà biện pháp “xã hội hóa” bằng con đường thoát ly chế độ bao cấp chuyển sang kinh doanh 20 năm qua không những không thể ngăn cản mà ngược lại còn đẩy nhanh quá trình đó…Câu Chuyện Cải Lương Thật Và ĐẹpCuốn sách ngắn này ghi lại những kỷ niệm và hồi ức về nghệ thuật Cải Lương, được thực hiện bởi hai nghiên cứu viên lịch sử truyền khẩu từ Hội đồng Anh là Hugo Frey và Suzanne Joinson qua 10 ngày làm việc ở Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai vào tháng 4/ phương pháp luận được sử dụng ở đây là dẫn dắt cho các lời kể cũng như khuyến khích chia sẻ các ký ức một cách cởi mở. Mỗi buổi phỏng vấn đều được quay phim và tường thuật. Rất nhiều phiên phỏng vấn kéo dài hơn 40 phút, được hỗ trợ bởi một phiên dịch viên, và có một phim tài liệu đi kèm.
thuyết trình về cải lương